HOTLINE0922000099

Hãy tưởng tượng Paris năm 2045, một giảng viên đại học Pháp đang giải thích về về hiện tượng Việt Nam, với xuất phải điểm là một nước nghèo, đã vươn mình trở thành một trong những cường quốc kỹ thuật số trên thế giới. Ông giải thích cho các sinh viên đang háo hức tìm hiểu về cách Việt Nam mở cửa đón nhận các công nghệ toàn cầu những năm 2020. Ông nói về cách Việt Nam tận dụng vị trí địa lý của đất nước, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng viễn thông và hoàn thiện khung thể chế và pháp lý. Ông chia sẻ với sinh viên thành công bất ngờ nhất có lẽ là cách Việt Nam hiện đại hóa lực lượng lao động, trở thành một trong những nước có kỹ năng số phát triển nhất tại châu Á.

Tầm nhìn tương lai này được thể hiện trong Chiến lược Phát triển Kinh tế-Xã hội được Đại hội Đảng lần thứ 13 thông qua vào tháng 2 năm 2021. Kinh tế số được coi là một trong những động lực tăng trưởng trong những thập kỷ tới, cho phép Việt Nam đạt được mục tiêu trở thành nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045. Tuy nhiên, sự chuyển đổi này sẽ không hề đơn giản. Tương tự như tất cả các cuộc cách mạng công nghệ khác trong lịch sử (ví dụ như điện khí hoá), chuyển đổi số sẽ có những tác động to lớn đến toàn xã hội cũng như từng cá nhân. Những thay đổi này đã hiển hiện trước mắt nhưng dự kiến ​​sẽ còn lớn hơn trong tương lai.

 

Tại Ngân hàng Thế giới, chúng tôi đã bắt đầu phân tích tác động của những thay đổi này đối với Việt Nam. Sử dụng một mô hình kinh tế tương đối phức tạp, chúng tôi nhận thấy quá trình chuyển đổi số nhanh chóng mà Chính phủ đề ra có thể thực sự giúp Việt Nam đạt được những mục tiêu đầy tham vọng của mình. Giả thiết rằng các ngành công nghệ số tăng trưởng với tốc độ khoảng 10% mỗi năm, lợi ích lũy kế của nền kinh tế sẽ đạt trên 200 tỷ USD trong giai đoạn 2021-2045, gần bằng GDP của Việt Nam hiện nay. Không chỉ vai trò của các ngành công nghệ số sẽ trở nên quan trọng hơn trong nền kinh tế, mà việc sử dụng máy tính, công cụ CNTT và nền tảng kỹ thuật số sẽ góp phần tăng năng suất trong những ngành khác do sự kết nối chặt chẽ giữa các mắt xích liên kết trong nền kinh tế. Những lợi ích này sẽ lớn hơn chi phí cần đầu tư để đạt được sự phát triển nhanh chóng này, ước tính vào khoảng 35 tỷ USD trong hai thập kỷ tới.

Theo chúng tôi, nền kinh tế Việt Nam hưởng lợi từ quá trình số hóa nhanh chóng đến mức độ nào phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của thị trường lao động. Quá trình số hóa sẽ vừa làm mất vừa tạo ra việc làm. Việc làm sẽ mất đi tại các ngành công nghệ có thể thay thế con người trong khi việc làm mới sẽ được tạo ra trong những ngành cần sự bổ trợ tương hỗ giữa công nghệ hiện đại và lao động có tay nghề, ví dụ như tăng cơ hội hợp tác làm việc thông qua các nền tảng các mạng xã hội, các sản phẩm có thương hiệu trên nền tảng thương mại điện tử và phân tích có sử dụng dữ liệu thu thập từ internet.

Trong một thế giới hoàn hảo (không có rào cản), số lượng các việc làm mới do quá trình chuyển đổi số tạo ra sẽ nhiều hơn gấp 7 lần so với số việc làm bị mất đi. Đến năm 2045, ước tính có khoảng 10 triệu việc làm mới (ròng) được tạo ra, chủ yếu trong các ngành dịch vụ hiện đại, và một số lượng việc làm mới ít hơn trong lĩnh vực sản xuất. Tuy nhiên, thực tế sẽ không hoàn hảo như vậy vì việc làm mới có tạo ra hay không có thể bị hạn chế do lực lượng lao động trong nước không có đủ kỹ năng. Ví dụ, người lao động cần phải có những kỹ năng phù hợp để tối đa hóa khoảng thời gian đã tiết kiệm được do áp dụng công nghệ hoặc họ phải biết cách quản lý thông tin thu thập được thông qua các nền tảng số. Trong khi đó, việc làm mất đi có thể xảy ra ngay lập tức.

Đáng tiếc là Việt Nam đang tụt hậu xa so với các đối thủ cạnh tranh chính trong khu vực về các kỹ năng số hiện có (xem Hình). Nếu chúng ta giả định rằng Việt Nam sẽ tụt hậu do không đáp ứng được yêu cầu về số lượng lao động có tay nghề cao trong quá trình chuyển đổi số nhanh chóng, nền kinh tế có thể mất tới 2 triệu việc làm vào năm 2045. Nói một cách thẳng thắn là theo giả thiết này, chuyển đổi số có khả năng dẫn đến việc công nghệ thay thế con người, làm giảm lợi ích chung của nền kinh tế và tạo ra sự bất bình đẳng lớn, từ đó có thể làm phát sinh nhiều hệ lụy về kinh tế và xã hội.

 

Đồ họa: Forbes Vietnam

Kết quả chính của phân tích này cho thấy Việt Nam muốn thành công trong quá trình chuyển đổi số cần phải tập trung nguồn lực nâng cao kỹ năng số của lực lượng lao động trong nước. Nếu không, Việt Nam sẽ thu được rất ít (hoặc không nhiều như mong đợi) thành công từ quá trình này vì nhiều người Việt Nam sẽ không thể tìm được việc làm.

Việc nâng cao kỹ năng cho người lao động Việt Nam là trong tầm tay. Nhưng ai sẽ đảm nhiệm việc này? Về lý mà nói, thị trường lao động sẽ điều chỉnh dần theo thời gian vì một khi nhu cầu về lao động có tay nghề tăng cao sẽ làm tăng mức lương tương đối, từ đó khuyến khích người lao động và doanh nghiệp gia tăng đầu tư vào giáo dục và đào tạo. Nhưng kinh nghiệm quốc tế đã chứng minh là việc thích ứng này có độ trễ nhất định. Còn người lao động thì sao? Có thể họ không được tiếp cận thông tin hoặc không có tài chính để đầu tư vào các chương trình đào tạo dài hạn hơn. Trong khi đó các doanh nghiệp có thể không muốn đầu tư vào đào tạo nhân viên vì rất có thể khi tay nghề nâng cao họ lại “nhảy việc” sang đối thủ cạnh tranh khác.

Do đó chúng tôi cho rằng Chính phủ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ cho người lao động và đáp ứng nhu cầu đang ngày một tăng của doanh nghiệp về lao động có tay nghề. Không những cần hành động quyết liệt hơn, Chính phủ cần phối hợp chặt chẽ với khu vực tư nhân. Thị trường lao động cần được thiết kế linh hoạt hơn, cho phép người lao động có thể dễ dàng chuyển từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Các cơ quan chức năng hãy cung cấp thông tin đầy đủ cho người lao động về các xu hướng và nhu cầu của thị trường lao động để giúp họ đưa ra quyết định. Các chương trình giáo dục kỹ thuật và dạy nghề cần được nâng cao chất lượng. Tạo điều kiện thuận lợi để những người lao động có chuyên môn cao gia nhập hoặc quay trở lại làm việc và hỗ trợ các doanh nghiệp và người lao động về tài chính trong quá trình đào tạo những kỹ năng mới. Nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng một hoặc một số giải pháp để hỗ trợ những hành động này, và những quốc gia thành công nhất, như Singapore hay Hàn Quốc, đã thực hiện đồng thời tất cả các biện pháp đó. Đây là những khuyến nghị Việt Nam cần nhanh chóng thực hiện do chúng tôi đưa ra trong Báo cáo Điểm lại gần đây nhất của Ngân hàng Thế giới được công bố vào tháng 8 năm 2021 với tiêu đề Việt Nam số hóa -- Con đường tới tương lai.

Bài báo đã được đăng tải trên Forbes Vietnam.

Read More

Sáng ngày 1.10.2021 Viện Đào tạo và Phát triển nhân lực phối hợp với Sở Lao động- Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình tổ chức khai mạc lớp bồi dưỡng” Chuyển đổi số trong Giáo dục nghề nghiệp” cho cán bộ quản lý, nhà giáo đang công tác, giảng dạy tại các các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái bình. 

Tham dự khai giảng có PGS.TS Cao Văn Sâm, nguyên Phó Tổng cục trưởng thường trực Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Chủ tịch Hội đồng cố vấn Viện Đào tạo và phát triển nhân lực, đại diện sở Lao động -Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình, các giảng viên, 40 học viên.

Được biết sau khi hoàn thành chương trình, người học hiểu biết cơ bản, cần thiết về chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số, tập trung vào 2 nội dung chủ đạo là chuyển đổi số trong quản lý GDNN và chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học. Trong quản lý GDNN bao gồm số hóa, thông tin quản lý, tạo ra những hệ thống cơ sở dữ liệu lớn liên thông, triển khai các dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng các công nghệ 4.0 (Al, bookchain, phân tích dữ liệu,...) để quản lý, điều hành, dự báo, hỗ trợ và ra quyết định một cách nhanh chóng, chính xác. Trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá gồm số hóa học liệu ( sách, tài liệu giảng dạy, bài giảng điện tử, kho bảng giảng Elearning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm), thư viện số, phòng thí nghiệm ảo ... Lớp bồi dưỡng kết thúc chiều ngày 3.10.2021.  

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   Tin VP Viên ITD                                                                 

 

Read More

 

 
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra trên toàn cầu với sự kết nối mạnh mẽ của Internet, trí tuệ nhân tạo. Rô bốt dần sẽ thay thế lao động giản đơn, đặt ra yêu cầu lao động có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số, thích ứng, hội nhập, có khả năng tiếp thu nhanh và làm chủ công nghệ mới... càng trở nên cấp thiết.
 
Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Do tác động của đại dịch COVID-19, nhiều doanh nghiệp phải tái cấu trúc, chuyển đổi, thậm chí giải thể… ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh dẫn tới lao động có thể mất việc làm cũ, muốn tìm việc làm mới, xuất hiện nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng để chuyển đổi nghề nghiệp. Trong lúc đó, hiện vẫn còn một bộ phận lao động đang làm việc có trình độ học vấn, kỹ năng nghề chưa đáp ứng yêu cầu; hiểu biết về chính sách pháp luật, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc, kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp còn hạn chế có nhu cầu tham gia đào tạo chuyển đổi nghề phù hợp hơn... Nên việc đào tạo, bồi dưỡng chuyển đổi nghề cho một bộ phận người người lao động đặt ra rất cấp bách, cần thiết, không để đứt gãy nhằm góp phần tạo điều kiện đảm bảo việc làm, ổn định đời sống, bảo vệ quyền, lợi ích cho lao động.

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ CMCN 4.0. Theo đó, những ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông sẽ chịu tác động lớn, nguy cơ thất nghiệp cao do sự phát triển của công nghệ tự động và trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, trong cuộc cách mạng này, nhiều ngành nghề sẽ biến mất nhưng lại có những công việc mới ra đời. Điều đó đòi hỏi nguồn nhân lực phải được trang bị kiến thức, kỹ năng phù hợp để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về chất lượng nguồn nhân lực như trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động còn thấp, (chỉ chiếm hơn 20% lực lượng lao động); năng suất lao động thấp hơn nhiều nước trong khu vực ASEAN… Như vậy, những ngành nghề sử dụng lao động phổ thông ở mức độ đào tạo đơn giản sẽ chịu tác động lớn và nguy cơ thất nghiệp do sự phát triển của công nghệ tự động và trí tuệ nhân tạo. Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia chưa sẵn sàng cho cuộc CMCN 4.0, chỉ xếp thứ 70/100 về nguồn nhân lực và 81/100 về lao động có chuyên môn cao. So sánh với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á về nguồn nhân lực, Việt Nam xếp sau Malaysia, Thái Lan, Philippines.

Đào tạo, bồi dưỡng chuyển đổi nghề cho lao động là tất yếu, khách quan, là nhiệm vụ quan trọng, ưu tiên (để người lao động không bị gián đoạn về việc làm) trong chương trình tổng thể góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục nghề nghiệp trong những năm tới, trong đó: Đến năm 2022, quy mô tuyển sinh đạt 2,6 triệu người mỗi năm, ít nhất 80% người học có việc làm và năng suất, thu nhập cao hơn sau đào tạo; giảm mạnh về đầu mối, tối thiểu bình quân cả nước giảm 10% đơn vị sự nghiệp công lập so với năm 2015 (bình quân mỗi năm giảm tối thiểu 2,5%); trong đó, trường trung cấp giảm tối thiểu 15%; 40 trường cao đẳng được kiểm định, đánh giá, công nhận đạt tiêu chí của trường chất lượng cao, trong đó: khoảng 3-5 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20, 40 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4; phấn đấu 10% đơn vị tự chủ tài chính, giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 - 2015.

Đến năm 2025, quy mô tuyển sinh đạt 4,6 triệu người mỗi năm; ít nhất 85% người học có việc làm và có năng suất, thu nhập cao hơn sau đào tạo; tiếp tục giảm tối thiểu bình quân cả nước 10% đơn vị sự nghiệp công lập so với năm 2021 (bình quân mỗi năm giảm tối thiểu 2%); 70 trường cao đẳng được kiểm định, đánh giá, công nhận đạt tiêu chí của trường chất lượng cao, trong đó khoảng 5-7 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20, 40 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4; phấn đấu tối thiểu 20% đơn vị tự chủ tài chính; thực hiện cổ phần hoá các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ điều kiện theo quy định.

Đến năm 2030, quy mô tuyển sinh đạt 6,3 triệu người mỗi năm; ít nhất 90% người học có việc làm và năng suất, thu nhập cao hơn sau đào tạo; tiếp tục thực hiện giảm đầu mối, phấn đấu chỉ còn các đơn vị sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ quản lý nhà nước và cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp; 100 trường được kiểm định, đánh giá, công nhận đạt tiêu chí của trường chất lượng cao, trong đó khoảng 15 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20, 50 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4. Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ASEAN.

Đào tạo, bồi dưỡng chuyển đổi nghề cho lao động là trách nhiệm của các cơ sở đào tạo, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp… nhằm đáp ứng nhu cầu tất yếu của lao động do biến động của thị trường lao động, có nghề mới xuất hiện, một số nghề mất đi hoặc chuyển hóa; đào tạo, bồi dưỡng chuyển đổi nghề cho người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu về số lượng, yêu cầu về chất lượng của thị trường lao động; nâng cao trình độ, năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. Việc đào tạo, bồi dưỡng cần chú trọng: Kiến thức, kỹ năng nghề, kỹ năng số, kỹ năng thích ứng, kỹ năng hội nhập để đáp ứng với yêu cầu công việc mới có năng suất, hiệu quả trong kỷ nguyên số, hội nhập.

Vì vậy, cần thực hiện tích cực các giải pháp vừa trước mắt, vừa dài hạn gắn với thực tiễn sau:

Một là, cơ quan quản lý nhà nước về lao động, đào tạo cần chủ động đề xuất, có sự tham gia doanh nghiệp, cơ sở đào tạo xây dựng chính sách pháp luật về đào tạo, chuyển đổi nghề cho người lao động để kịp thời giải quyết bức xúc của công nhân, lao động về nhu cầu đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng nghề, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại doanh nghiệp.

Hai là, hoàn thiện thể chế như: Sửa đổi hệ thống luật pháp lao động, việc làm phù hợp với các cam kết trong các FTA, trước hết là phù hợp với các công ước cơ bản của ILO. Phát triển nguồn nhân lực: Đổi mới có tính cách mạng về tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và trả công lao động; gắn sử dụng, đánh giá với đào tạo nguồn nhân lực. Nghiên cứu, xây dựng các chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động lớn tuổi. Xây dựng chương trình việc làm cho người cao tuổi. Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động để gắn kết đào tạo và sử dụng lao động; nâng cao chất lượng dự báo thị trường lao động nhằm cung cấp các thông tin về cơ hội việc làm, chỗ việc làm trống, các khoá đào tạo, bồi dưỡng.

Ba là, đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức cho chủ sử dụng lao động và người lao động về đào tạo chuyển đổi nghề cho người lao động.

- Tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lao động, nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, vai trò, lợi ích của việc học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của người lao động; từ đó vận động lao động tham gia học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp để có cơ hội chuyển đổi nghề.

- Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, thường xuyên thông tin, đưa tin và cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí để tuyên truyền về vai trò, vị trí của đào tạo nghề, phát triển kỹ năng đối với phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập để người lao động biết và tích cực tham gia học nghề giải quyết việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp.

- Tổ chức các diễn đàn, tập huấn, tọa đàm, trao đổi, tham quan và chia sẻ kinh nghiệm các mô hình đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp có hiệu quả.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình triển khai thực hiện để người lao động được tiếp cận thông tin về đào tạo nghề, chuyển đổi nghề mang lại có việc làm và thu nhập ổn định.

Bốn là, nâng cao năng lực các cơ sở đào tạo, giáo dục nghề nghiệp để đào tạo, bồi dưỡng chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động có hiệu quả.

- Điều chỉnh, bổ sung cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong quy hoạch mạng lưới trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030 theo hướng: Nâng cao năng lực; đảm bảo hợp lí vùng miền, cơ cấu ngành nghề, qui mô; nâng cao chất lượng đào tạo.

- Nâng cao năng lực cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Đầu tư xây dựng bảo đảm tiêu chuẩn cơ sở vật chất, danh mục thiết bị dạy nghề theo quy định cho việc dạy các nghề trọng điểm quốc gia; đầu tư xây dựng bảo đảm tiêu chuẩn cơ sở vật chất, danh mục thiết bị dạy nghề tối thiểu theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho việc dạy các nghề không thuộc danh mục các nghề trọng điểm.

Phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên dạy nghề: Có chính sách ưu đãi để thu hút, khuyến khích phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên dạy nghề vào các cơ sở dạy nghề bảo đảm số lượng biên chế cơ hữu theo quy định, đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề; chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy nghề tương ứng với tiêu chuẩn, yêu cầu của việc dạy từng nghề cụ thể trong đó có các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu vực và thế giới.

Phát triển chương trình, giáo trình dạy nghề: Đối với các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN và quốc tế: Thực hiện theo chương trình, giáo trình dạy nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp nhận, cơ sở hợp tác của các nước tiên tiến trong khu vực ASEAN và quốc tế phù hợp với thị trường lao động Việt Nam.

    Đối với các nghề trọng điểm các cấp xây dựng, trên cơ sở chương trình khung do Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội ban hành: Áp dụng và thực hiện theo chương trình, giáo trình dạy nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng và ban hành trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; chương trình, giáo trình của các nghề khác do cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã ban hành theo chuẩn đầu ra hoặc tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia.

Hội nhập quốc tế: Mở rộng liên kết, hợp tác với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nước ngoài, các tổ chức quốc tế trong đào tạo nghề để nâng cao chất lượng đào tạo; nâng cao trình độ đội ngũ nhà giáo; tổ chức quản lý cơ sở dạy nghề theo chuẩn mực quốc tế; học sinh, sinh viên tốt nghiệp được công nhận đạt trình độ khu vực và quốc tế; Tăng cường hợp tác với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nước ngoài có uy tín trong việc tiếp nhận, chuyển giao chương trình, giáo trình, học liệu, phương pháp giảng dạy và học tập; Triển khai và ký kết các chương trình hợp tác với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam trong việc hỗ trợ các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và học sinh, sinh viên nâng cao kỹ năng nghề nghiệp.

- Đổi mới cơ chế tài chính và cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp từng bước tính đủ chi phí đào tạo nghề theo lộ trình của Nhà nước quy định; huy động các nguồn lực xã hội hóa đầu tư vào cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhằm bảo đảm yêu cầu số lượng, chất lượng dạy nghề của thị trường lao động và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tiếp cận các nguồn vốn đầu tư, tài trợ của các tổ chức quốc tế cho các hoạt động dạy nghề; Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động phối hợp với doanh nghiệp để đào tạo, phát triển kỹ năng nghề cho người lao động.

Năm là, trên cơ sở cầu về lao động chuyển đổi nghề, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp gắn với doanh nghiệp phù hợp có kế hoạch tổ chức đào tạo, bồi dưỡng theo hướng mở, linh hoạt về kiến thức, kỹ năng nghề, kỹ năng số, kỹ năng thích ứng, kỹ năng hội nhập, thái độ nghề nghiệp, chú trọng năng lực thực hiện để người lao động sau đào tạo, bồi dưỡng chuyển đổi được nghề nghiệp có năng suất lao động cao hơn.

                      

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  PGS.TS Cao Văn Sâm

Read More

 

 

                                                             

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra trên toàn cầu với sự kết nối mạnh mẽ của Internet, trí tuệ nhân tạo, rô bốt người máy dần sẽ thay thế lao động giản đơn, đặt ra yêu cầu lao động có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số, kỹ năng thích ứng, kỹ năng hội nhập,có khả năng tiếp thu nhanh và làm chủ công nghệ mới càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên hiện nay vẫn còn một bộ phận có trình độ học vấn và trình độ tay nghề chưa đáp ứng yêu cầu; hiểu biết về chính sách pháp luật, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc, kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp còn hạn chế; Nên việc đào tạo, bồi dưỡng chuyển đổi nghề cho một bộ phận người người lao động là cần thiết, cấp bách, góp phần tạo điều kiện đảm bảo việc làm, ổn định đời sống, bảo vệ quyền, lợi ích cho lao động.

        Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ CMCN 4.0. Theo đó, những ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông sẽ chịu tác động lớn, nguy cơ thất nghiệp cao do sự phát triển của công nghệ tự động và trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, trong cuộc cách mạng này, nhiều ngành nghề sẽ biến mất, nhưng lại có những công việc mới ra đời. Điều đó đòi hỏi nguồn nhân lực phải được trang bị kiến thức, kỹ năng phù hợp để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về chất lượng nguồn nhân lực như trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động còn thấp, (chỉ chiếm hơn 20% lực lượng lao động); năng suất lao động thấp hơn nhiều nước trong khu vực ASEAN… Như vậy, những ngành nghề sử dụng lao động phổ thông ở mức độ đào tạo đơn giản sẽ chịu tác động lớn và nguy cơ thất nghiệp do sự phát triển của công nghệ tự động và trí tuệ nhân tạo. Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia chưa sẵn sàng cho cuộc CMCN 4.0, chỉ xếp thứ 70/100 về nguồn nhân lực và 81/100 về lao động có chuyên môn cao, so sánh với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á về nguồn nhân lực, Việt Nam xếp sau Malaysia, Thái Lan, Philippines.

    Để đào tạo, bồi dưỡng chuyển đổi nghề cho lao động là trách nhiệm của các cơ sở đào tạo, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu tất yếu của lao động do biến động của thị trường lao động, có nghề mới xuất hiện, một số nghề mất đi hoặc chuyển hóa; Đào tạo, bồi dưỡng chuyển đổi nghề cho người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu về số lượng, yêu cầu về chất lượng của thị trường lao động; nâng cao trình độ, năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động.Trong bài viết chúng tôi chỉ đề cập tới việc Đào tạo, bồi dưỡng để chuyển đổi nghề cho lao động trong giáo dục nghề nghiệp; Việc đào tạo, bồi dưỡng cần chú trọng: kiến thức, kỹ năng nghề, kỹ năng số, kỹ năng thích ứng, kỹ năng hội nhập để đáp ứng với yêu cầu công việc mới có năng xuất, hiệu quả trong kỷ nguyên số, hội nhập  theo chúng tôi cần thực hiện có hiệu quả các giải pháp rõ ràng vừa chiến lược vừa thực tiễn sau đây:

        Một là, cơ quan quản lý nhà nước về lao động, đào tạo cần chủ động đề xuất,  có sự tham gia doanh nghiệp, cơ sở đào tạo xây dựng chính sách pháp luật về đào tạo, chuyển đổi nghề cho người lao động để kịp thời giải quyết bức xúc của công nhân, lao động về nhu cầu đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng nghề, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại doanh nghiệp.

          Hai là, đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức cho chủ sử dụng lao động và người lao động về đào tạo chuyển đổi nghề cho người lao động.

          - Tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lao động, nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, vai trò, lợi ích của việc học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của người lao động từ đó vận động lao động tham gia học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp để có cơ hội chuyển đổi nghề.

- Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, thường xuyên thông tin, đưa tin và cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí để tuyên truyền về vai trò, vị trí của đào tạo nghề, phát triển kỹ năng đối với phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập để người lao động biết và tích cực tham gia học nghề giải quyết việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp.

- Tổ chức các diễn đàn, tập huấn, tọa đàm, trao đổi, tham quan và chia sẻ kinh nghiệm các mô hình đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp có hiệu quả.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình triển khai thực hiện để người lao động được tiếp cận thông tin về đào tạo nghề, chuyển đổi nghề mang lại có việc làm và thu nhập ổn định.

Ba là, nâng cao năng lực các cơ sở đào tạo, giáo dục nghề nghiệp.

- Điều chỉnh, bổ sung cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong quy hoạch mạng lưới trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030 theo hướng: Nâng cao năng lực, đảm bảo hợp lí vùng miền, cơ cấu ngành nghề, qui mô, chất lượng đào tạo.

         - Tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Đầu tư xây dựng bảo đảm tiêu chuẩn cơ sở vật chất, danh mục thiết bị dạy nghề theo quy định cho việc dạy các nghề trọng điểm quốc gia; đầu tư xây dựng bảo đảm tiêu chuẩn cơ sở vật chất, danh mục thiết bị dạy nghề tối thiểu theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho việc dạy các nghề không thuộc danh mục các nghề trọng điểm.

         - Phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên dạy nghề:  Có chính sách ưu đãi để thu hút, khuyến khích phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên dạy nghề vào các cơ sở dạy nghề bảo đảm số lượng biên chế cơ hữu theo quy định, đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ quản lý dạy nghề; chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy nghề tương ứng với tiêu chuẩn, yêu cầu của việc dạy từng nghề cụ thể trong đó có các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, cấp độ khu vực và thế giới.

         - Phát triển chương trình, giáo trình dạy nghề: Đối với các nghề trọng điểm cấp độ khu vực ASEAN và quốc tế: Thực hiện theo chương trình, giáo trình dạy nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp nhận, cơ sở hợp tác của các nước tiên tiến trong khu vực ASEAN và quốc tế phù hợp với thị trường lao động Việt Nam.

            - Đối với các nghề trọng điểm các cấp xây dựng, trên cơ sở chương trình khung do Bộ Lao động - Thương độ ban hành: Áp dụng và thực hiện theo chương trình, giáo trình dạy nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng và ban hành trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; chương trình, giáo trình của các nghề khác do cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã ban hành theo chuẩn đầu ra hoặc tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia.

         - Đổi mới cơ chế tài chính và cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp từng bước tính đủ chi phí đào tạo nghề theo lộ trình của Nhà nước quy định; huy động các nguồn lực xã hội hóa đầu tư vào cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhằm bảo đảm yêu cầu số lượng, chất lượng dạy nghề của thị trường lao động và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tiếp cận các nguồn vốn đầu tư, tài trợ của các tổ chức quốc tế cho các hoạt động dạy nghề; Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động phối hợp với doanh nghiệp để đào tạo, phát triển kỹ năng nghề cho người lao động.

            - Hội nhập quốc tế: Mở rộng liên kết, hợp tác với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nước ngoài, các tổ chức quốc tế trong đào tạo nghề để nâng cao chất lượng đào tạo; nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên; tổ chức quản lý cơ sở dạy nghề theo chuẩn mực quốc tế; học sinh, sinh viên tốt nghiệp được công nhận đạt trình độ khu vực và quốc tế; Tăng cường hợp tác với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nước ngoài có uy tín trong việc tiếp nhận, chuyển giao chương trình, giáo trình, học liệu, phương pháp giảng dạy và học tập; Triển khai và ký kết các chương trình hợp tác với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam trong việc hỗ trợ các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và học sinh, sinh viên nâng cao kỹ năng nghề nghiệp.

        Bốn là, hoàn thiện thể chế như: Sửa đổi hệ thống luật pháp lao động, việc làm phù hợp với các cam kết trong các FTA, trước hết là phù hợp với các công ước cơ bản của ILO; Phát triển nguồn nhân lực: Đổi mới có tính cách mạng về tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và trả công lao động; gắn sử dụng, đánh giá với đào tạo nguồn nhân lực; Nghiên cứu, xây dựng các chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động lớn tuổi; Xây dựng chương trình việc làm cho người cao tuổi; Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động để gắn kết đào tạo và sử dụng lao động; nâng cao chất lượng dự báo thị trường lao động nhằm cung cấp các thông tin về cơ hội việc làm, chỗ việc làm trống, các khoá đào tạo, bồi dưỡng.

         Đào tạo, bồi dưỡng chuyển đổi nghề cho lao động có hiệu quả, góp phần thực hiện mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp trong những năm tới trong đó:Giai đoạn đến năm 2022: Phấn đấu quy mô tuyển sinh đạt 2,6 triệu người mỗi năm, ít nhất 80% người học có việc làm và có năng suất, thu nhập cao hơn sau đào tạo; Giảm mạnh về đầu mối, tối thiểu bình quân cả nước giảm 10% đơn vị sự nghiệp công lập so với năm 2015 (bình quân mỗi năm giảm tối thiểu 2,5%); trong đó trường trung cấp giảm tối thiểu 15%; có 40 trường cao đẳng được kiểm định, đánh giá, công nhận đạt tiêu chí của trường chất lượng cao, trong đó có khoảng 3-5 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20, 40 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4; phấn đấu có 10% đơn vị tự chủ tài chính, giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 - 2015.Đến năm 2025: Phấn đấu quy mô tuyển sinh đạt 4,6 triệu người mỗi năm; ít nhất 85% người học có việc làm và có năng suất, thu nhập cao hơn sau đào tạo; tiếp tục giảm tối thiểu bình quân cả nước 10% đơn vị sự nghiệp công lập so với năm 2021 (bình quân mỗi năm giảm tối thiểu 2%); có 70 trường cao đẳng được kiểm định, đánh giá, công nhận đạt tiêu chí của trường chất lượng cao, trong đó có khoảng 5-7 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20, 40 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4; phấn đấu có tối thiểu 20% đơn vị tự chủ tài chính; thực hiện cổ phần hoá các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ điều kiện theo quy định. Đến năm 2030: Phấn đấu quy mô tuyển sinh đạt 6,3 triệu người mỗi năm; ít nhất 90% người học có việc làm và có năng suất, thu nhập cao hơn sau đào tạo; tiếp tục thực hiện giảm đầu mối, phấn đấu chỉ còn các đơn vị sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ quản lý nhà nước và cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp; có 100 trường được kiểm định, đánh giá, công nhận đạt tiêu chí của trường chất lượng cao, trong đó có khoảng 15 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20, 50 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4. Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ASEAN.

                     

                                                                                        PGS.TS Cao Văn Sâm

Read More

Kỳ thi Kỹ năng nghề quốc gia sẽ được lùi sang tháng 12/2021 (dự kiến tổ chức từ ngày 02/12/2021-12/12/2021). 35 nghề sẽ được tổ chức cùng 1 đợt thay vì chia làm 2 đợt như thông báo trước đó.

Ngày 20/9, Ban tổ chức thi Kỹ năng nghề Việt Nam (Bộ LĐ-TB&XH) có thông báo tới các Đoàn dự thi Kỹ năng nghề quốc gia lần thứ 12 năm 2021 về việc kỳ thi sẽ được lùi sang tháng 12/2021. 

Trước đó, ngày 1/9/2021, Ban tổ chức thi Kỹ năng nghề Việt Nam có thông báo về phương án tổ chức thi trực tiếp, trực tuyến. Theo đó, kỳ thi được tổ chức theo hai đợt:

 Đợt 1 tổ chức thi trực tuyến cho tối đa 11 nghề và 1 nghề trực tiếp tại Quảng Ninh (Thời gian diễn ra từ ngày 05/10/2021-15/10/2021).

Đợt 2, thi trực tiếp đối với các nghề chưa được tổ chức ở đợt 1 khi tình dịch bệnh được kiểm soát (thời gian dự kiến từ ngày 22/11/2021-30/11/2021).
Tuy nhiên, trước tình hình dịch bệnh Covid - 19 bùng phát và diễn biến phức tạp, thành phố Hà Nội, TPHCM, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương và một số tỉnh thành khác trong cả nước phải giãn cách dài ngày theo Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19.

 

 

Trước đó, ngày 1/9/2021, Ban tổ chức thi Kỹ năng nghề Việt Nam có thông báo về phương án tổ chức thi trực tiếp, trực tuyến. Theo đó, kỳ thi được tổ chức theo hai đợt:
Đợt 1 tổ chức thi trực tuyến cho tối đa 11 nghề và 1 nghề trực tiếp tại Quảng Ninh (Thời gian diễn ra từ ngày 05/10/2021-15/10/2021).
Đợt 2, thi trực tiếp đối với các nghề chưa được tổ chức ở đợt 1 khi tình dịch bệnh được kiểm soát (thời gian dự kiến từ ngày 22/11/2021-30/11/2021).
Tuy nhiên, trước tình hình dịch bệnh Covid - 19 bùng phát và diễn biến phức tạp, thành phố Hà Nội, TPHCM, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương và một số tỉnh thành khác trong cả nước phải giãn cách dài ngày theo Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19.
Trên cơ sở kết quả cuộc họp Ban tổ chức rút gọn ngày 17/9/2021 (gồm một số thành viên dự kiến chủ trì làm chủ tịch Hội đồng thi quốc gia, lãnh đạo các trường dự kiến đăng cai tổ chức thi và một số đại biểu liên quan) bàn về kết quả đăng ký dự thi ở các nghề cũng như một số ý kiến đặt ra do khó khăn trong việc tham dự kỳ thi, khả năng đảm bảo phòng chống dịch tại điểm thi của các đoàn thi trực tuyến đợt 1... Ban tổ chức thông báo tới các đoàn dự thi, các đơn vị dự kiến đăng cai về việc hoãn tổ chức kỳ thi kỹ năng nghề quốc gia lần thứ 12 năm 2021 theo kế hoạch hai đợt 1 và 2 như nói trên.
Cụ thể, kỳ thi sẽ được lùi lại tổ chức cùng một đợt, bao gồm 35 nghề tổ chức thi, thời gian thi dự kiến trong khoảng thời gian từ ngày 02/12/2021 đến ngày 12/12/2021 (Chương trình cụ thể sẽ được thông báo sau bằng văn bản).
Theo Tổng Cục Giáo dục nghề nghiệp (Bộ LĐ-TB&XH), tính đến thời điểm hiện nay có khoảng 600 thí sinh đăng ký dự thi Kỹ năng nghề quốc gia lần thứ 12 - năm 2021. Các thí sinh sẽ tranh tài 35 nghề (29 nghề chính thức, 6 nghề trình diễn). Trong đó, 29 nghề được tổ chức theo hình thức xã hội hóa.
Kỳ thi Kỹ năng nghề Quốc gia lần thứ 12 năm 2021 cũng là Kỳ thi có nhiều điểm mới, trong đó đáng chú ý nhất là đối tượng thí sinh tham dự Kỳ thi được mở rộng. Học sinh, sinh viên đang học tập tại các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp hay người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp, công ty có độ tuổi dưới 60 sẽ được đăng ký dự thi.
Trước đây, đối tượng tham gia kỳ thi chỉ là học sinh, sinh viên, người lao động trẻ có độ tuổi không quá 23 hoặc 25 tùy từng nghề. Việc mở rộng đối tượng dự thi không nằm ngoài mục đích nào khác là lan tỏa phong trào rèn nghề, phát triển kỹ năng lao động, tôn vinh người lao động và giá trị của kỹ năng nghề.
Bên cạnh đó, trong số 35 nghề thì có đến 11 nghề lần đầu tiên được tổ chức tầm quốc gia. 11 nghề này cũng chưa xuất hiện tại Kỳ thi tay nghề ASEAN và thế giới. Thậm chí có nghề còn chưa được tổ chức đào tạo, giảng dạy chính thức tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Điều này cho thấy sự đón đầu xu hướng trình độ tay nghề, kỹ thuật thế giới.

Lệ Thu/ dantri.com.vn

Read More

Đào tạo nguồn nhân lực là một trong 3 khâu đột phá mà đất nước đang hướng đến. Theo đó, nguồn nhân lực phải có sự phát triển toàn diện, trong đó văn hoá ứng xử sẽ là yếu tố đòi hỏi người lao động phải có được. Vì vậy, việc đẩy mạnh xây dựng văn hóa ứng xử trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần được đẩy mạnh hơn nữa.

Sáng 16/9, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam (Bộ LĐ-TB&XH) tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện Đề án "Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018 - 2025" và biểu dương mô hình xây dựng văn hóa ứng xử tiêu biểu năm 2021.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Ông Đỗ Năng Khánh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục Nghề nghiệp (GNNN) cho hay, việc thực hiện đề án trong giai đoạn 2019-2020 đã đạt được một số kết quả tích cực như có 95% cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinh viên các cơ sở GDNN được tuyên truyền, phổ biến, học tập các vấn đề liên quan đến văn hóa ứng xử, môi trường văn hóa trong gia đình, nhà trường và cộng đồng (vượt chỉ tiêu); Có 93,5% cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, đoàn thanh niên trong các cơ sở GDNN được bồi dưỡng nâng cao năng lực ứng xử văn hóa và có năng lực tốt trong tổ chức giáo dục văn hóa ứng xử (vượt chỉ tiêu); đạt chỉ tiêu 90% cơ sở GDNN trên toàn quốc đạt tiêu chuẩn xanh, sạch, đẹp, an toàn, lành mạnh, thân thiện, góp phần xây dựng môi trường.

Ông Lê Tấn Dũng, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Ảnh: Nhung Nguyễn 

"Sau 3 năm triển khai thực hiện Đề án, công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về xây dựng văn hóa ứng xử trong các cơ sở GDNN đã được triển khai thực hiện sâu rộng đến nhà giáo, cán bộ quản lý, học sinh, sinh viên với nhiều hình thức đa dạng và phong phú", ông Khánh đánh giá.

Mặc dù vậy, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục GDNN cũng chỉ ra những điểm còn hạn chế, như: một số hoạt động ngoại khóa vẫn còn mang tính hình thức, phong trào, thời điểm, không thường xuyên, liên tục. Sở LĐ-TB&XH một số tỉnh, thành phố, một số các cơ sở giáo dục còn chưa chủ động ban hành kế hoạch triển khai đến các cơ sở GDNN và chưa có báo cáo sơ kết kết quả triển khai thực hiện Đề án.

Chia sẻ từ thực tiễn, ông Trần Bá Uẩn, Quyền Hiệu trưởng Trường Cao Đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên nhìn nhận, văn hoá ứng xử là sự giao tiếp, đây là một trong những yếu tố để đánh giá trình độ tri thức của mỗi con người, mỗi quốc gia. Do vậy, ở các cơ sở GDNN, ngoài kỹ năng nghề nghiệp thì giáo dục đạo đức rất quan trọng.

Với đặc thù của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên có tới 90% học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số, ông Uẩn cho biết, nhà trường đã lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp với văn hoá bản địa của địa phương.

Theo đó, Trường đã xây dựng mô hình "nhà trường xanh - ứng xử đẹp", góp phần nâng cao chất lượng GNNN. Kết hợp văn hoá ứng xử nhà trường xanh, ứng xử đẹp để thúc đẩy tư duy sáng tạo, tự tin cho người dạy, người học. Đồng thời, nhà trường cũng thường xuyên phát động phong trào xây dựng mô hình, tổ chức giờ học ngoại khoá về các kỹ năng ứng xử.

Ông Uẩn chũng cho biết, nhà trường còn tăng cường sử dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội để cung cấp định hướng về hướng nghiệp, cũng như hoạt động giải trí lành mạnh. "Kết hợp chặt chẽ mối quan hệ giữa nhà trường và học sinh là điều kiện để phát triển nhân lực quốc gia, xây dựng đất nước phát triển", Hiệu trưởng Trường Cao Đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên chia sẻ.

Còn với Trường Cao đẳng Lý Tự Trọng TP.HCM, thời gian qua, mô hình "nhà trường văn minh - thân thiện - trách nhiệm" đang được triển khai. Hiệu trưởng Phạm Hữu Lộc chia sẻ, việc nâng cao kỹ năng giao tiếp, truyền thông, kỹ năng mềm được thực hiện thông qua cuộc thi, hoạt động văn thể mỹ. Đặc biệt, tổ chức các cuộc thi khuyến khích sáng tạo cho giảng viên, học sinh trong trường như cuộc thi về thiết bị tự sáng chế...

Kết quả, tỷ lệ sinh viên sau khi ra trường làm đúng ngành đào tạo của Trường Cao đẳng Lý Tự Trọng TP.HCM đạt tới hơn 95%, có ngành đạt 100%. Thông qua mối quan hệ tương tác giữa nhà trường và học sinh đã đẩy mạnh được hoạt động nghiên cứu khoa học, phong trào thi đua trong giảng dạy và học tập.

"Thông qua mô hình nhà trường văn minh - thân thiện - trách nhiệm đã khẳng định thương hiệu, vị thế của trường, định hướng mục tiêu phát triển của nhà trường. Chính kết quả này giúp cho đội ngũ cán bộ giảng viên, sinh viên nhà trường phát huy tốt thế mạnh trên con đường đổi mới, toàn diện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước", ông Lộc nhấn mạnh.

Thấy rõ hiệu quả ngay từ công tác tuyển sinh

Theo bà Trần Thị Xuân Mai, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH TP. Cần Thơ, thời gian qua đã có rất nhiều mô hình về việc xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học. Theo đó, cần nhân rộng các mô hình, cách làm hay, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền Đề án, hoàn thiện bộ quy tắc ứng xử trong từng trường, phát động thi đua để phát huy vai trò của văn hoá ứng xử.

Bộ LĐ-TB&XH tặng bằng khen cho các mô hình xây dựng văn hóa ứng xử tiêu biểu năm 2021. Ảnh: Nhung Nguyễn 

Ông Lê Minh Tân, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Vĩnh Phúc cho hay, trên cơ sở quy tắc ứng xử chung trong trường học, Sở chỉ đạo cơ sở GDNN xây dựng riêng bộ quy tắc cho đơn vị mình. 100% cơ sở GDNN trên địa bàn đã thực hiện điều này, hơn 90% cơ sở đạt tiêu chí xanh, sạch, đẹp, an toàn, lành mạnh, thân thiện.

"Điều này cho thấy việc đổi mới nội dung giáo dục văn hoá ứng xử, đổi mới phương pháp, kỹ năng sống ứng xử có văn hoá của người học, người dạy là rất cần thiết", ông Tân đánh giá.

Ông Lê Tấn Dũng, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH cho rằng, văn hoá ứng xử không chỉ nằm ở lĩnh vực văn hoá, xã hội. Mà văn hoá ứng xử ở đây nếu hiểu phạm trù rộng hơn thì trong chính trị, trong kinh tế đều rất quan trọng. "Trước dịch bệnh COVID-19, Việt Nam đã làm rất tốt chính sách ngoại giao vắc xin - đây chính là văn hóa ứng xử", ông Dũng dẫn chứng và cho rằng văn hoá ứng xử hiện hữu ở bất kỳ lĩnh vực nào trong đời sống.

Theo đó, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH yêu cầu cần đánh giá đúng việc triển khai Đề án xây dựng văn hóa ứng xử tại các cơ sở GDNNN. Đây là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững về chất lượng nguồn lao động.

Đi vào yêu cầu cụ thể, Thứ trưởng Lê Tấn Dũng đề nghị Tổng cục GDNN tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, rà soát quá trình thực hiện tại các địa phương, chỉ đạo rà soát bộ quy tắc ứng xử để xem có điểm nào cần bổ sung thực hiện. Việc triển khai cần giải pháp thiết thực theo định hướng đổi mới, tránh lối mòn.

Sở LĐ-TB&XH các tỉnh có kế hoạch, lộ trình triển khai Đề án văn hoá ứng xử, hỗ trợ học sinh, sinh viên sinh xây dựng văn hoá ứng xử.

Với các cơ sở GDNN, ông Dũng yêu cầu rà soát xem nội dung, phương thức triển khai thời gian qua còn vướng gì không và tập trung thực hiện thế nào. Học sinh đến trường và ra trường - đó là thương hiệu của các trường.

"Muốn tuyên truyền để tuyển sinh tốt thì nhà trường không chỉ dùng công cụ trên báo chí, tờ rơi, trang tin điện tử, mà còn thông qua truyền miệng của học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp ở trường. Điều này sẽ giúp hiệu quả tuyển sinh tăng lên rất nhiều", Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH chia sẻ.

Bộ LĐ-TB&XH tặng bằng khen cho 15 mô hình văn hóa ứng xử tiêu biểu năm 2021 

Tại Hội nghị, sáng 16/9, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH đã quyết định tặng bằng khen cho 15 mô hình của 14 cơ sở GDNN trên cả nước đạt giải mô hình xây dựng văn hóa ứng xử tiêu biểu năm 2021.

Trong giai đoạn 2021-2025, Đề án xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học đặt mục tiêu 100% cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên, học sinh, sinh viên các cơ sở GDNN được tuyên truyền, phổ biến, học tập các vấn đề liên quan đến văn hóa ứng xử, môi trường văn hóa trong gia đình, nhà trường và cộng đồng.

Có ít nhất 95% cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên trong các cơ sở GDNN được bồi dưỡng nâng cao năng lực ứng xử văn hóa và có năng lực tốt trong tổ chức giáo dục văn hóa ứng xử trong trường học.

95% cơ sở GDNN trên toàn quốc đạt tiêu chuẩn xanh, sạch, đẹp, an toàn, lành mạnh, thân thiện, góp phần xây dựng môi trường văn hóa trong nhà trường.

Theo đó, các cơ sở GDNN cần tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức về xây dựng văn hóa ứng xử trong các cơ sở GDNN; Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn xây dựng các mô hình văn hóa ứng xử trong trường học; Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục văn hóa ứng xử trong các cơ sở GDNN...

Theo Nhật Linh - Tổng cục GDNN

Read More