HOTLINE0909540549

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                 PGS.TS Cao Văn Sâm

Email :This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.  

                              Cao Việt Anh                           

                                                                                                                                                                                                                               

Tóm tắt

Ta đang đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và hội nhập khu vực ASEAN, quốc tế, nhu cầu về lao động kỹ thuật, đặc biệt là lao động trình độ cao cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, các ngành trọng điểm, vùng kinh tế động lực, đòi hỏi chúng ta cần phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, tăng cường đào tạo nhân lực chất lượng cao. Bởi dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4( công nghiệp 4.0) quá trình CNH- HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế cần nhân lực chất lượng cao.

Từ khóa: đào tạo, đào tạo nhân lực chất lượng cao, công nghiệp hóa- hiện đại hóa, 4.0.

Những vấn đề, thách thức đặt ra

 Đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đang có những vấn đề, thách thức sau:

- Tạo nền tảng thực hiện quyết sách của Đảng về định hướng phát triển đất nước 10 năm tới và các năm tiếp theo là:“Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao" ( trích Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII) .

- Đẩy nhanh quá trình đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất, mở rộng các khu công nghiệp, khu chế xuất, đảm bảo để n­ước ta trở thành một n­ước có trình độ kĩ thuật, công nghệ tiên tiến so với các n­ước trong khu vực. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo h­ướng tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP, đồng thời điều chỉnh cơ cấu lao động. Tăng nhanh tỷ lệ lao động đ­ược đào tạo trong toàn bộ lao động xã hội, nâng tỷ lệ lao động kỹ thuật có trình độ cao. Tăng cường hội nhập, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nhất là với những nước thành công trong phát triển đào tạo nghề ở khu vực ASEAN và trên thế giới. Hợp tác với các nước ASEAN, trên thế giới để tiến tới công nhận kỹ năng nghề của nhau, tích cực tham gia vào các hoạt động của khu vực và thế giới để giao lưu, trao đổi học hỏi kinh nghiệm...

         - Cuộc cách mạng 4.0 tác động tới chuyển dịch sản xuất công nghiệp quốc gia theo hướng từ nền kinh tế năng suất thấp sang nền kinh tế năng suất cao; tạo ra những thay đổi lớn trong cơ cấu của các ngành kinh tế, đặc biệt là công nghiệp cũng như đóng góp của mỗi ngành trong tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế của nước ta trong thời gian tới. Đây là thách thức và cũng là cơ hội để giáo dục nghề nghiệp Việt nam tận dụng được các lợi ích của cuộc cách mạng 4.0.  

         - Đào tạo theo hướng cầu đã trở thành cách tiếp cận đào tạo có hiệu quả và đang được thực hiện rất thành công ở các quốc gia phát triển. Chương trình việc làm toàn cầu của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), đã khuyến cáo các quốc gia tổ chức đào tạo nghề linh họat theo hướng cầu của thị trường lao động, nhằm tạo việc làm bền vững. UNESO đã nêu rõ, phát triển kỹ năng nghề gắn với học tập suốt đời sẽ là xu hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp trong thế kỷ XXI. Theo một nghiên cứu về các xu hướng toàn cầu đang nổi lên trong giáo dục nghề nghiệp coi kỹ năng là một loại tiền tệ quốc tế, là một nguồn lợi thế kinh tế và ngày càng “có thể giao dịch”.

- Để giải quyết các thách thức trên trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực,  chúng ta phải thực hiện có hiệu quả Luật Giáo dục nghề nghiệp, Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nhằm đáp ứng yêu cầu về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Xây dựng hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, thích ứng, hiệu quả và công bằng;  đủ năng lực đào tạo, hình thành đội ngũ lao động có kỹ năng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng cao suất lao động, đảm bảo việc làm và an sinh xã hội bền vững, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đến năm 2025 hệ thống GDNN góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70% trong tổng lực lượng lao động, trong đó có 30% có văn bằng, chứng chỉ. Phấn đấu có 70 trường chất lượng cao, trong đó 03 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20, 40 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4. Đến năm 2030 hệ thống GDNN góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 75% trong tổng lực lượng lao động, trong đó có 40% có văn bằng, chứng chỉ. Phấn đấu có 90 trường chất lượng cao, trong đó 15 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20, 50 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4. Tầm nhìn đến năm 2045 giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề cao của một nước phát triển; trở thành quốc gia phát triển hàng đầu về giáo dục nghề nghiệp trong khu vực ASEAN, bắt kịp trình độ tiên tiến của thế giới, có năng lực cạnh tranh vượt trội ở một số lĩnh vực, ngành, nghề đào tạo.

         Cần tiếp tục quyết liệt giải quyết các vấn đề sau

       Muốn thực hiện được các mục tiêu chiến lược, đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhân lực cho nghiệp hóa- Hiện đại hóa và hội nhập theo chúng tôi ta cần tiếp tục quyết liệt giải quyết có hiệu quả các vấn đề sau:

       Một là, thực hiện đồng bộ các giải pháp chiến lượng như: Hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế, đổi mới cơ chế, chính sách GDNN; Đẩy mạnh gắn kết GDNN với doanh nghiệp, thị trường lao động; Nâng cao năng lực của đội ngũ quản lý và nhà giáo GDNN; Hiện đại hóa cơ sở vật chất trang thiết bị và đổi mới chương trình, phương thức đào tạo; Đẩy nhanh chuyển đổi số, chuyển biến căn bản nhận thức và nhanh chóng nâng cao năng lực chuyển đổi số của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp; Nghiên cứu ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ, hướng nghiệp, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; Tăng cường huy động và nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho giáo dục nghề nghiệp; Chủ động và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về giáo dục nghề nghiệp…

       Hai là, tăng cường các điều kiện bảo đảm chất lượng GDNN đây là vấn đề đột phá về đào tạo nhân lực chất lượng cao. Đối với đội ngũ quản lý, nhà giáo GDNN và người dạy cần nâng cao năng lực. Phát triển đội ngũ nhà giáo theo hướng chuẩn, chuyên nghiệp, tinh gọn và hiệu quả. Tiến tới tất cả các giáo viên dạy trình độ trung cấp, giảng viên dạy trình độ cao đẳng phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm và giảng dạy tích hợp. Giảng viên ở các trường cao đẳng chất lượng cao, giảng viên giảng dạy các ngành, nghề được đầu tư trọng điểm phải có trình độ từ thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, theo tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW; có trình độ kỹ năng nghề cao hơn một bậc trình độ đào tạo để giảng dạy thực hành… Đối với phát triển chương trình, học liệu và phương pháp đào tạo cần theo hướng hiện đại, mở, linh hoạt với sự tham gia chặt chẽ của doanh nghiệp, trên cơ sở phân tích, dự báo nhu cầu kỹ năng, năng lực hành nghề và việc làm của thị trường lao động và trên cơ sở chuẩn “đầu ra”, phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động ở từng vùng, từng địa phương; đồng thời quan tâm đến phát triển chương trình phù hợp với các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội và trên thị trường lao động, theo phương châm “không để ai lại phía sau”. Nội dung chương trình đào tạo không chỉ chú trọng hình thành thái độ, kỹ năng nghề nghiệp mà còn hướng tới hình thành kỹ năng thích ứng cho người lao động, nhằm đáp ứng sự thay đổi công nghệ, thay đổi nghề nghiệp trong bối cảnh CMCN lần thứ tư và nền kinh tế số. Tiếp nhận, chuyển giao và nhân rộng bộ chương trình đào tạo chất lượng cao được nhập khẩu từ các nước tiên tiến, đáp ứng các tiêu chuẩn đào tạo của các nước có chương trình đào tạo được nhập khẩu…Đối với cơ sở vật chất, thiết bị cần tăng cường theo hướng hiện đại hóa , đạt chuẩn quy định, phù hợp với công nghệ sản xuất của doanh nghiệp phù hợp với hướng phân tầng chất lượng (trường chất lượng cao, ngành nghề trọng điểm, nghể mới, ngành nghề nông nghiệp công nghệ cao…); sử dụng thiết bị đào tạo tại doanh nghiệp; đầu tư  phát triển các thiết bị mô phỏng cho thực hành, thực tập. Hiên đại hóa các Trung tâm dịch vụ cho HSSV (TT thể dục; KTX, nhà ăn...). Nâng cao hiệu quả và hiệu suất đào tạo của cơ sở GDNN trên cơ sở chia sẻ tài nguyên và tối ưu hóa quy trình đào tạo…Đẩy mạnh hoạt động phát triển kỹ năng nghề cho người học và người lao động và hoạt động đánh giá kỹ năng nghề theo hướng chuẩn hóa, trên cơ sở khung  trình độ kỹ năng nghề quốc gia. Triển khai các hoạt động nâng cao kỹ năng cho người học và người lao động, chú trọng trang bị các kỹ năng mới trong mô trường làm việc 4.0, bao gồm các kỹ năng kỹ thuật và các kỹ năng mềm như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng số…

     Ba là, tăng cường hợp tác giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nước ngoài, đặc biệt hợp tác đào tạo các chương trình theo tiêu chuẩn kỹ năng của nhau, công nhận lẫn nhau, mở rộng sử dụng thị trường nhân lực sau đào tạo trong quá trình hội nhập. Hình thành mạng lưới chuyên gia quốc tế trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Đa dạng hóa các hoạt động giao lưu văn hoá, thể dục thể thao giữa học sinh, sinh viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong khu vực và quốc tế…

     Bốn là, tăng cường kiểm định chất l­ượng cơ sở và các ch­ương trình đào tạo, đảm bảo hoạt động đào tạo đáp ứng yêu cầu chuẩn quốc gia, khu vực và thế giới; đánh giá, công nhận kỹ năng nghề cho ngư­ời lao động. Phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng quốc gia về giáo dục nghề nghiệp tiếp cận “quản lý rủi ro” và đẩy mạnh “hậu kiểm”. Nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, phát huy vai trò người đứng đầu trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ quan quản lý các cấp. Đổi mới công tác thanh tra, kiểm định, đánh giá và công nhận chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Nghiên cứu xây dựng và áp dụng khung bảo đảm chất lượng chất lượng giáo dục nghề nghiệp quốc gia, chương trình đào tạo thuộc các lĩnh vực, ngành, nghề đặc thù. Phát triển đội ngũ kiểm định viên và mạng lưới tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp.

      Năm là, phát triển hệ thống quản lý, kiểm soát chất lượng tiên tiến trên cơ sở sử dụng triệt để hệ thống dữ liệu quốc gia về giáo dục nghề nghiệp và số hóa hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng của của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ quan quản lý các cấp và kết quả kiểm định chất lượng GDNN.

      Tài liệu tham khảo

  1.Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13

  2.Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường  định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

 3.Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 28/05/2020 về đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng năng lực cạnh tranh quốc gia trong tình hình mới

  1. Quyết định số 1982/QĐ- TTg ngày 18/10/2016 của Chính phủ về Khung trình độ quốc gia.
  2. Quyết định số 2239/QĐ- TTg ngày 30/12/2021 của Chính phủ phê duyệt Chiến lượng phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
  3. Quyết định số 2222/QĐ- TTg ngày 30/12/2021 của Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
  4. Đào Ngọc Dung, “Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước.
  5. PGS.TS Cao Văn Sâm và BCN (2019), Nghiên cứu các mô hình giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp -Đề tài cấp Bộ, mã số CB2019 -05. PGS.TS Cao Văn Sâm và BCN (2021), Đổi mới hoạt động truyền thông trong các cơ sở  giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số - Đề tài cấp Bộ, mã số CB2020 -04.

 

 

       

 

 

DISCUSS TRAINING HIGH QUALITY HUMAN RESOURCES

TO MEET INTEGRATION REQUIREMENTS

                                                                                             PGS. TS Cao Văn Sâm

                                                                                              Mail: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

                                                                                              Cao Việt Anh

:

        Summary

We are strongly industrialization - modernization  and integration into the ASEAN region, intenationally, the demand for technicl labor, especially high-skilled labor for industrial parks, export processing zones, important industries, point, the dynamic economic region, requires us to continue to innovate, improve the quality of vocational education and strengthen the training of high-quality human resources. Because under the impac of the fouth industrial revolution (4,0), the process of industrialization-modernization and intenational economic integration neet high-quality human resources.

 

       Keywords: training, high quality human resource training, industrialization - modernization , 4.0

 

 

Read More

Báo cáo tóm tắt Kết quả đánh giá ngoài chương trình đào tạo Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, trình độ cao đẳng - Trường Cao đẳng Lào Cai

Read More

Báo cáo tóm tắt Kết quả đánh giá ngoài chương trình đào tạo Kế toán, trình độ cao đẳng, Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức

Read More

Báo cáo tóm tắt Kết quả đánh giá ngoài chương trình đào tạo Công nghệ Kỹ thuật Điện tử - Truyền thông, trình độ cao đẳng, Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức

Read More

Báo cáo tóm tắt Kết quả đánh giá ngoài chương trình đào tạo Công nghệ Ô tô năm 2022 - Trường Cao đẳng Lào Cai

Read More

Báo cáo tóm tắt Kết quả đánh giá ngoài chương trình đào tạo Điện công nghiệp năm 2022 - Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên

Read More