Nghiên cứu khoa học

Thông tin cơ bản:

        Viện thực hiện triển khai nghiên cứu cơ bản, thực hiện các đề tài, dự án thuộc lĩnh khoa học giáo dục và giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng đào tạo, như:

- Tham gia tổ chức đào tạo sau đại học, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, giáo viên các bậc học, ngành học;

- Thu thập, lưu trữ, xử lý và phổ biến thông tin khoa học giáo dục;

- Tham gia tổ chức nghiên cứu biên soạn chương trình, giáo trình, sách tham khảo, sách bồi dưỡng giáo viên, sách tư vấn tâm lý, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo, cơ sở GDNN…;

- Thẩm định chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học giáo dục;

- Thực hiên các dịch vụ khoa học;

- Hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

Lực lượng nghiên cứu của Viện:

        Hiện nay, Viện NCSP đang có một lực lượng nghiên cứu mạnh, bao gồm các chuyên gia có trình độ và có nhiều kinh nghiệm tổ chức, thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học - công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học giáo dục, giáo dục nghề nghiệp và lĩnh vực sản xuất, công nghệ. Viện có nhiều chuyên gia có kinh nghiệm hợp tác nghiên cứu với các tổ chức nghiên cứu và các dự án quốc tế tại Việt Nam. Viện NCSP có màng lưới cộng tác viên đa dạng và rộng, bao gồm hàng trăm chuyên gia, trong đó có nhiều chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo các chuyên ngành khoa học; Viện đào tạo và phát triển nhân lực có quan hệ hợp tác về nghiên cứu và đào tạo với nhiều viện nghiên cứu, nhiều trường đại học trong nước và quốc tế. Cán bộ nghiên cứu của Viện đã chủ trì hàng trăm chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực đào tạo và phát triển nhân lực.  

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

 GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TRONG DOANH NGHIỆP

                                                 

                                                               PGS .TS  Cao Văn Sâm

                                                                    Phó Chủ tịch Hiệp hội GDNN

                                                                         Email:This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

           

       Tóm tắt

        Bài viết trình bày những nghiên cứu về giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp; nêu các mô hình , cách thức dạy nghề trong doanh nghiệp; Đề xuất các giải pháp cơ bản đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.

        Tính đến ngày 01/07/2018, cả nước có 702.000 ngàn doanh nghiệp đang hoạt động ( theo số liệu Tổng cục thống kê), sử dụng  khoảng 31  triệu lao động. Dự kiến đến năm 2020 nước ta có khoảng 1.000.000 doanh nghiệp, tạo thêm khoảng 13 triệu chỗ làm việc. Một số nghề, nhóm nghề có nhu cầu lớn qua đào tạo nghề như: Dệt, may; thuộc da, làm giày; vận hành máy và thiết bị; cơ khí, lắp ráp máy móc; xây dựng; chế biến; sửa chữa, lắp ráp thiết bị điện, điện tử, thủ công mỹ nghệ...đòi hỏi dạy nghề, phải đáp ứng về: số lượng, cơ cấu trình độ, kiến thức, kỹ năng nghề, vị trí làm việc, phù hợp với công nghệ sản xuất .Trong thời gian qua  Dạy nghề trong doanh nghiệp, theo các hình thức: dạy nghề tại các cơ sở dạy nghề của doanh nghiệp; Dạy nghề  tại nơi làm việc của doanh nghiệp; Dạy nghề gắn kết giữa cở sở dạy nghề và doanh nghiệp đó được chú trọng, bước đầu có sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nhiệp, góp phần cung cấp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp hiện có, cũng như các doanh nghiệp sẽ được thành lập mới. Việc triển khai các hình thức trên có nhiều ưu điểm như: người học nghề học những nghề học những nghề phự hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp; các kiến thức, kỹ năng mà người học tiếp thu được đỏp ứng được lợi ích của người học và người sử dụng lao động; người học nghề được học thực tế ngay trên máy móc, thiết bị đang sử dụng tại doanh nghiệp; học được tác phong công nghiệp… sự tương tác trên tạo cơ hội cho:

          Với các cơ sở dạy nghề luôn  xem xét doanh nghiệp cần gì? có như vậy dạy nghề mới sát với thực tế sản xuất, nếu không đáp ứng được nhu cầu doanh nghiệp sẽ gây lãng phí trong quá trình dào tạo, cho người học và cho cộng đồng. Trên thực tế doanh nghiệp nào cũng có nhu cầu sử dụng hợp lý, bảo đảm cân đối cơ cấu nguồn nhân lực, có nghĩa không phải doanh nghiệp nào cũng cần nguồn nhân lực có trình độ cao nhưng phải có chất lượng. Điều đó dẫn đến việc phân tầng nguồn nhân lực nên dạy nghề cũng phải cần đào tạo ở các trình độ khác

nhau cho phù hợp, có những trường có những nghề đào tạo trinh độ cao nhằm phục vụ cho nhu cầu của doanh nghiệp cần sử dụng lao động ở mức độ công nghệ cao, nhưng có những trường, có những nghề chỉ cần đào tạo trinh độ vừa phải. Xét về logic doanh nghiệp cần đến đâu, cơ sở dạy nghề đào tạo, chuẩn bị nguồn nhân lực theo kịp, tốt nhất đi trước một bước. Để đáp ứng được điều đó cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần bám sát thực tiễn, nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp.

          Với các cơ sở dạy nghề  luôn xem xét đổi mới và điều chỉnh cơ cấu ngành nghề đào tạo phù hợp với cơ cấu ngành nghề của doanh nghiệp, chú ý mở thêm ngành, nghề mới mà doanh nghiệp, thị trường lao động có nhu cầu. Hiện nay, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các ngành kinh tế mũi nhọn ngày càng phát triển, công nghệ mới được đưa vào sản xuất ngày càng nhiều, đòi hỏi nguồn nhân lực phải tăng nhanh về số lượng và nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu ngành, nghề đào tạo và cơ cấu trình độ đào tạo. Các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư 100% của nước ngoài “khát lao động có kỹ thuật” ngày càng trầm trọng. Một số nghề, nhóm nghề đang có nhu cầu cao về lao động qua dạy nghề như cơ khí, lắp ráp máy móc, vận hành máy, dệt may, xây dựng... ở một số nghề, nhóm nghề khác lại cần nhiều lập trình viên, điện, điện tử, cơ điện tử với trình độ cao...dự kiến trong thời gian tới, nhu cầu nhân lực của các nghề trên chắc chắn tăng nhanh ở các doanh nghiệp phần mềm, cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác, chế biến..

          Tuy nhiên, việc dạy nghề trong doanh nghiệp thời gian qua vẫn cũn hạn chế như: cũn ớt doanh nghiệp cú ơ sở giỏo dục nghề nghiệp; đào tạo tại nơi làm việc qui mô qúa nhỏ; việc gắn kết giữa doanh nghiệp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn ít và lỏng lẻo ( cả về trách nhiệm và quyền lợi). Để giải quyết tốt các hạn chế trên theo chúng tôi trong thời gian tới cần đẩy mạnh Giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp với cỏc giải pháp cở bản sau đây:

       1.Về cơ chế chính sách cần: Tiếp tục chuyển mạnh dạy nghề từ h­ướng cung sang hư­ớng cầu của thị tr­ường lao động từ việc tuyển sinh, xây dựng chương trình tới hình thức đào tạo...dạy nghề theo cơ chế đặt hàng của doanh nghiệp. Đối với những nghề khó thu hút lao động, thực hiện cơ chế chỉ định đào tạo hỗ trợ kinh phí đào tạo và thu hút học sinh học nghề.

          Phát triển mạnh các cơ sở dạy nghề tại doanh nghiệp: Cac tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp lớn cần có cơ sở giỏo dục nghề nghiệp. Các trường này tập trung đào tạo phục vụ nhân lực cho doanh nghiệp; đồng thời đào tạo những nghề các doanh nghiệp khác và nền kinh tế có nhu cầu lớn.

          Củng cố và phát triển những tr­ường đào tạo chuyên ngành trong các doanh nghiệp để phục vụ cho những nhu cầu đặc thù của một số ngành như  khai thác mỏ, những nghề phục vụ khai thác, chế biến dầu...

          Bổ sung cơ chế chính sách để huy động các doanh nghiệp tham gia  đào tạo nghề và phát triển cơ sở dạy nghề tại doanh nghiệp. Doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề được tính chi phí đào tạo vào giá thành; được miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc được trích một phần thu nhập trước thuế.

          Phải coi dạy nghề tại doanh nghiệp là hình thức đào tạo cho người lao động; doanh nghiệp không chỉ là nơi thực tập mà là nơi dạy tích hợp cả lý thuyết lẫn thực hành cho người lao động học nghề và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. Vì vậy, cần xây dựng  các tiêu chí đánh giá, công nhận kỹ năng nghề cho ng­ười lao động đ­ược đào tạo tại doanh nghiệp hoặc tự đào tạo trong quá trình lao động. Người lao động đào tạo tại doanh nghiệp được hưởng quyền lợi hợp pháp về nghề nghiệp và đãi ngộ như những người được đào tạo tại các cơ sở dạy nghề chính quy.

          Đổi mới ch­ương trình đào tạo theo hư­ớng mềm dẻo, tích hợp và linh hoạt, phù hợp với sự thay đổi công nghệ của doanh nghiệp. Hướng tới các trường dạy nghề tự xây dựng chương trình đào tạo, có sự tham gia của nhiều phía trong đó có doanh nghiệp. Triển khai một số chương trình đào tạo tiên tiên của nước ngoài đối với một số nghề công nghệ cao.

          Có chính sách để nâng cao chất lượng đội ngũ GVDN ( đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ...).Trình độ đội ngũ giáo viên được nâng lên trên cơ sở tích hợp kiến thức ( lý thuyết, năng lực thực hành nghề và trình độ s­ư phạm).Giáo viên dạy nghề nhất thiết phải am hiểu thực tế sản xuất, định kỳ đi  thực tế tại doanh nghiệp. Có chính sách đặc thù đối với GVDN ở doanh nghiệp, nhất là chính sách  thợ lành nghề, người có tay nghề cao trong doanh nghiệp tham gia dạy nghề.

          Cần có cơ chế phối hợp  chặt chẽ giữa cơ quan nhà nư­ớc về lao động với đại diện giới chủ, đaị diện giới thợ, đại diện của các hội nghề nghiệp và cơ sở dạy nghề trong việc xác định nhu cầu của doanh nghiệp về lao động và xây dựng danh mục, tiêu chuẩn nghề. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, để xây dựng danh mục và tiêu chuẩn nghề, cần có sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và các Hội nghề nghiệp.

          Xây dựng trung tâm quốc gia phân tích, dự báo nhu cầu thị tr­ường lao động. Trung tâm này hoạt động như cầu nối giữa nhà trường và doanh nghiệp, tạo điều kiện cho hai bên nắm bắt được những thông tin về cung và cầu lao động qua đào tạo nghề.

          Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài mở cơ sở dạy nghề tại doanh nghiệp.

          Đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính cho dạy nghề, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở dạy nghề. Các trường dạy nghề chịu trách nhiệm xác định nghề đào tạo, quy mô đào tạo chủ động xây dựng chương trình đào tạo mềm dẻo, linh họat, phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo theo từng nghề, nhóm nghề.

          Đổi mới các chính sách khác có liên quan như thuế, ưu đãi sử dụng đất, tín dụng, chính sách đối với cơ sở dạy nghề tại doanh nghiệp, chính sách đối với người học nghề ; cơ chế phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp...

          Tăng cường các hoạt động tư vấn nghề nghiệp tại cơ sở dạy nghề và tại doanh nghiệp, tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp khi vào trường; đồng thời có những thông tin cần thiết về chỗ làm việc khi sắp tốt nghiệp.

  1. Doanh nghiệp phải có chiến lược, kế hoạch phát triển nhân lực phù hợp với chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh.

          Doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ sở dạy nghề nhu cầu về lao động (quy mô, cơ cấu ngành, nghề, trình độ đào tạo, kỹ năng nghề...). Coi đây là  trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp.

          Tạo điều kiện cho học sinh các trường nghề thực tập tại doanh nghiệp;  cho nhà giỏo giỏo dục nghề nghiệp được tiếp cận với thực tế sản xuất, nhất là khi doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị, công nghệ.

          Doanh nghiệp tham gia xây dựng tiêu chuẩn, kỹ năng nghề, thiết kế chương trình và tham gia giảng dạy, đánh giá kết quả học tập của người học nghề; tham gia đánh giá kỹ năng nghề cho người lao động qua đào tạo nghề.

          Tổ chức đào tạo nghề tại doanh nghiệp với nhiều hình thức khác nhau cho những lao động tuyển mới chưa qua đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động đã có nghề, phù hợp với điều kiện và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp.

  1. Cơ sở dạy nghề cần chủ động xác định số lượng nghề đào tạo, quy mô đào tạo trên cơ sở năng lực của cơ sở và nhu cầu của doanh nghiệp; chủ động xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Đổi mới phương pháp, quy trình đào tạo, lấy học sinh, người học nghề làm trung tâm và nhu cầu của doanh nghiệp làm định hướng đào tạo.

          Cơ sở dạy nghề phải gắn với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo, phải coi doanh nghiệp là thành tố của quá trình đào tạo từ khâu xây dựng danh mục nghề, tiêu chuẩn, kỹ năng nghề, thiết kế ch­ương trình và tham gia giảng dạy, đánh giá kết quả học tập của người học nghề... Cơ sở dạy nghề dạy lý thuyết, doanh nghiệp đào tạo kỹ năng nghề, kèm cặp tại doanh nghiệp.

          Những cơ sở giáo dục nghiệp chưa cú bộ phận quan hệ doanh nghiệp cần khẩn trương hình thành, các cơ sở cơ sở giáo dục nghiệp đó có bộ phận  quan hệ doanh nghiệp cần nâng cao năng lực để nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp và hợp tác với doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo. Cơ sở dạy nghề phải chủ động điều tra để có đ­ược thông tin về nhu cầu của doanh nghiệp về nghề, trình độ, mức độ kỹ năng...để tổ chức đào tạo phù hợp.

          Tóm lại, đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp, đòi hỏi các cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp cần nêu cao trách nhiệm, uy tín cho mình...trong đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực bảo đảm cung, cầu hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả trong dạy nghề, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển bền vữn,bởi cú nguồn nhõn lực hợp lớ, chất lượng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.   

Tài liệu tham khảo

  1. Luật giáo dục nghề nghiệp số: 74/2014/QH13;
  2. Quyết định 630/QĐ- TTg của Thủ tướng Chớnh phủ ngày 29/5/2012 phê duyệt ” Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020”;
  3. Quyết định số:1216/QĐ- TTg của Thủ tướng Chớnh phủ ngày 22/07/2011 phê duyệt ” Quy hoạch phát triển nhân lực Việt nam giai đoạn 2011-2020”;
  4. GS.TS.NGNN Nguyễn Xuân Lạc, Nhập môn lí luận và cụng nghệ dạy học hiện đại, NXBGDVN, năm 2017;
  5. PGS.TS Cao Văn Sâm, Chủ nhiệm đề tài khoa học ” Giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu cạnh tranh của thị trường lao động trong bối cảnh hội nhập”, mã số: CT2011-01-03;
  • Tham gia tổ chức nghiên cứu biên soạn chương trình, giáo trình, sách tham khảo, sách bồi dưỡng giáo viên, sách tư vấn tâm lý, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo, cơ sở GDNN…;
  • Nghiên cứu, tư vấn, tổ chức thẩm định các đề tài nghiên cứu, chế tạo đồ dùng dạy học chất lượng cao.
  • Tham gia tổ chức đào tạo sau đại học, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, giáo viên các bậc học, ngành học;
  • Thu thập, lưu trữ, xử lý và phổ biến thông tin khoa học giáo dục;
  • Thẩm định chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học giáo dục, giáo dục nghề nghiệp
  • Thực hiên các dịch vụ khoa học;
  • Hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
  • Thẩm định chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học giáo dục, giáo dục nghề nghiệp
  • Thực hiên các dịch vụ khoa học;
  • Hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.