|
PGS.TS. Cao Văn Sâm Email: vansam2510@gmail.com ThS. Cao Việt Dũng Đại học Kinh tế quốc dân |
Tóm tắt:
Giáo dục nghề nghiệp có vị trí quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp cho sản xuất và dịch vụ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong kỷ nguyên mới. Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, Cải cách, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, tạo đột phá phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao, bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập cần thực hiện đồng bộ giải pháp từ đổi mới quản trị nhà trường, phát triển chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới tổ chức quá trình đào tạo theo hướng gắn kết cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp, đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận năng lực, tăng cường hợp tác quốc tế với các cơ sở đào tạo ở khu vực và trên thế giới.
Từ khóa: Giáo dục nghề nghiệp, hội nhập, bảo đảm chất lượng, giải pháp bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp

Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: https://www.tvet-vietnam.org)
1. Đặt vấn đề
Thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/08/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Chiến lược phát triển GDNN giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045. Giáo dục nghề nghiệp với vị trí quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp cho sản xuất và dịch vụ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế bằng cách thực hiện nhiều giải pháp từ đổi mới quản trị nhà trường, phát triển chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới tổ chức quá trình đào tạo theo hướng gắn kết cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp, đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận năng lực, tăng cường hợp tác quốc tế với các cơ sở đào tạo ở khu vực và các nước phát triển. Giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động. Chất lượng giáo dục nghề nghiệp là sự đáp ứng mục tiêu do cơ sở đào tạo đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp cho sản xuất và dịch vụ của địa phương và cả nước. Chất lượng giáo dục nghề nghiệp được đánh giá qua các yếu tố: đội ngũ nhà giáo, mục tiêu và chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, quản trị nhà trường, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, tổ chức quá trình đào tạo, dịch vụ phục vụ người học và phục vụ cộng đồng, đánh giá kết quả học tập. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, người học không chỉ làm việc trong nước mà còn có khả năng làm việc ở nước ngoài.
Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tập thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm. Hội nhập quốc tế theo đúng nghĩa đầy đủ là hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Hội nhập quốc tế là yêu cầu có tính khách quan, theo đó các quốc gia tham gia các hoạt động của đời sống quốc tế trên hầu hết các lĩnh vực và ở các mức độ khác nhau do tác động của quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng. Trong giáo dục nghề nghiệp, hội nhập quốc tế thể hiện ở quản trị nhà trường, các chuẩn mực đào tạo, chương trình đào tạo, tổ chức quá trình đào tạo, cơ sở vật chất, …
2. Thực trạng về chất lượng giáo dục nghề nghiệp
Trong thời gian qua chất lượng và hiệu quả đào tạo giáo dục nghề nghiệp có bước chuyển biến tích cực, từng bước gắn đào tạo với nhu cầu nguồn nhân lực của thị trường lao động. Đội ngũ nhà giáo từng bước nâng cao về chất lượng và chuẩn hóa. Nhiều chương trình đào tạo tiên tiến của Ôxtraylia, Cộng hòa Liên bang Đức được triển khai đào tạo thí điểm.
Theo số liệu gần nhất hiện chất lượng đội ngũ nhà giáo: Về năng lực chuyên môn: đa số nhà giáo đạt chuẩn về trình độ chuyên môn đào tạo. Về kỹ năng nghề: có khoảng 19% Nhà giáo dạy trình độ cao đẳng, 30% Nhà giáo dạy trung cấp và 73% Nhà giáo dạy sơ cấp đạt chuẩn về kỹ năng nghề, số nhà giáo này có khả năng giảng dạy được tích hợp. Một bộ phận nhà giáo được bồi dưỡng chuyên môn để giảng dạy chương trình tiên tiến của nước ngoài như: Ôxtraylia, Cộng hòa Liên bang Đức.
Chương trình đào tạo được phát triển dựa trên các tiêu chuẩn kỹ năng nghề theo phương pháp phát triển chương trình DACUM bằng sự phân tích nghề, phân tích công việc theo vị trí việc làm tương ứng với các nhiệm vụ và công việc của ngành, nghề, với sự tham gia của doanh nghiệp. Đến nay đã xây dựng, thẩm định các chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo cho các ngành nghề phổ biến.
Phương pháp đào tạo các cấp trình độ theo hình thức niên chế hoặc mô-đun, tín chỉ và dần chuyển sang đào tạo theo hình thức tích lũy mô-đun, tín chỉ theo quy định của Luật giáo dục nghề nghiệp. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã gắn kết với doanh nghiệp trong phát triển chương trình đào tạo, tổ chức đào tạo kỹ năng nghề tại doanh nghiệp, doanh nghiệp đặt hàng đào tạo và đảm bảo việc làm cho người học khi tốt nghiệp.
Cơ sở vật chất, đầu tư tập trung đồng bộ cho các ngành, nghề trọng điểm về trang thiết bị đào tạo nhất là thiết bị đào tạo phù hợp với công nghệ mới, với sản xuất của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, một số điều kiện đảm bảo chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, cụ thể: Chương trình đào tạo chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, kỹ năng thực hành của nhà giáo còn hạn chế chưa đảm bảo thực hiện dạy học tích hợp, cơ sở vật chất trang thiết bị chưa đáp ứng được yêu cầu của chương trình đào tạo và thường lạc hậu so với công nghệ đang áp dụng trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,… Nhân lực qua đào tạo còn hạn chế kỹ năng mềm, kỹ năng số, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng khởi nghiệp. Kỹ năng lao động nước ta trong những năm gần đây có tiến bộ nhưng vẫn còn xếp ở thứ hạng khá khiêm tốn. Để khắc phục ta cần tích cực, tiếp tục triển khai một số giải pháp bảo đảm chất lượng.
3. Một số giải pháp cơ bản bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập.
Tiếp tục chuẩn hóa các điều kiện đảm bảo chất lượng, trong đó chú trọng đến đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng số, phương pháp sư phạm cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý. Xây dựng, cập nhật, chỉnh sửa, bổ sung tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; danh mục thiết bị; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và định mức kinh tế – kỹ thuật; quy định khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và các đề thi kỹ năng nghề ASEAN, thế giới. Xây dựng mới chuẩn đầu ra ở các ngành, nghề đặc thù, một số nghề phổ biến trình độ sơ cấp. Hướng dẫn bộ, ngành, địa phương và tổ chức thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ và năng lực chuyển đổi số cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý GDNN. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giảng viên, kiểm định viên. Nghiên cứu, xây dựng bộ chỉ số đánh giá xếp hạng chất lượng giáo dục nghề nghiệp Việt Nam, tổ chức đánh giá xếp hạng chất lượng giáo dục nghề nghiệp Việt Nam.
3.1. Nhóm giải pháp cải thiện các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng.
a. Về nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
Chất lượng đội ngũ nhà giáo là một trong những nhân tố quan trọng tác động tới chất lượng đào tạo giáo dục nghề nghiệp. Để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp cần thực hiện cả hai nhiệm vụ: Đào tạo và bồi dưỡng.
Về bồi dưỡng nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, Nhà giáo giáo dục nghề nghiệp cần được bồi dưỡng thường xuyên về: Trình độ chuyên môn; kỹ năng thực hành nghề; đạt chuẩn giảng dạy các chương trình được nước ngoài chuyển giao; bồi dưỡng đạt chuẩn về tin học, ngoại ngữ; bồi dưỡng các nội dung về dạy học tích hợp; bồi dưỡng về phát triển chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực; bồi dưỡng về đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận năng lực.
Về đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp cần thực hiện các nội dung sau: Đổi mới chương trình đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp ở các trường đại học sư phạm kỹ thuật theo hướng phát triển năng lực nghề, trong đó xác định chuẩn đầu ra về năng lực mà sinh viên sư phạm kỹ thuật cần đạt được. Những năng lực mà sinh viên cần đạt được khi tốt nghiệp gồm những năng lực chung, năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm. Từ chuẩn năng lực mà xác định các kiến thức lý thuyết và kiến thức thực tế, kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp và kỹ năng giao tiếp, ứng xử, năng lực tự chủ cần có để thực hiện được năng lực đã xác định trong chuẩn đầu ra. Sinh viên sư phạm kỹ thuật cần đạt chuẩn đầu ra về kỹ năng nghề quốc gia bậc 2. Có như vậy, họ mới có thể giảng dạy chương trình tích hợp (mô đun) ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Phương thức đào tạo: Các trường đại học sư phạm kỹ thuật đang đào tạo cả hai phương thức: đào tạo nối tiếp và đào tạo song song. Đối với đào tạo nối tiếp, thì khối kiến thức về chuyên ngành được thực hiện trước và tiếp sau đó là khối kiến thức về nghiệp vụ sư phạm; còn ở đào tạo song song cả hai khối kiến thức này được thực hiện đồng thời, đan xen nhau trong suốt quá trình đào tạo. Cho đến nay chưa thấy có nghiên cứu nào chỉ ra được sự khác biệt đáng kể ở kết quả đào tạo giữa hai phương thức này. Các trường đại học sư phạm kỹ thuật có thể lựa chọn một trong hai phương thức nói trên. Tuy nhiên, dù lựa chọn phương thức nào thì đào tạo nhà giáo phải đảm bảo tính toàn diện từ đạo đức nhà giáo, năng lực chuyên môn ngành và năng lực sư phạm để nhà giáo đảm nhiệm dạy chữ, dạy nghề, dạy làm người. Để gắn kết giữa lý thuyết với thực hành sư phạm, các trường đại học sư phạm kỹ thuật có thể liên kết với trường cao đẳng trong việc tổ chức thực tế, thực tập sư phạm. Đây chính là môi trường thuận lợi để sinh viên hệ sư phạm kỹ thuật rèn luyện năng lực sư phạm nghề nghiệp.
b. Về phát triển chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực
Để chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, cần phát triển chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực từ xây dựng chuẩn đầu ra đối với tất cả các chương trình đào tạo dựa trên Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Khi xây dựng chương trình đào tạo, cần tham chiếu tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đề cập những chuẩn mực năng lực mà người lao động cần có để có thể hoàn thành chức năng của nghề trong bối cảnh môi trường làm việc. Chuẩn năng lực trong kỹ năng nghề quốc gia bao gồm: Năng lực cơ bản là những năng lực áp dụng để làm việc nói chung không dành riêng cho một nghề hoặc một ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (sau đây gọi chung là ngành công nghiệp); Năng lực chung là những năng lực bắt buộc phải có khi làm việc trong một ngành công nghiệp cụ thể; Năng lực chuyên môn là những năng lực cần thiết của nghề mà một cá nhân cần có để được thừa nhận là có năng lực tại một cấp độ cụ thể.
Các chương trình đào tạo có mục tiêu, nội dung được thiết kế đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và thị trường lao động. Doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo từ xác định chuẩn đầu ra đến đánh giá kết quả học tập của người học. Chương trình đào tạo cần đảm bảo tính thực tiễn, linh hoạt đáp ứng sự thay đổi của thị trường lao động nhất là những chương trình đào tạo chịu nhiều tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 như: Công nghệ thông tin, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, …
Để có thể đào tạo nhân lực các ngành/nghề sẽ xuất hiện trong tương lai, Nhà nước cần có dự báo những lĩnh vực lao động mới, bổ sung vào danh mục các ngành/nghề để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động xây dựng chương trình đào tạo, tuyển sinh và tổ chức đào tạo.
c. Về đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất
Nhà nước, cơ sở giáo dục nghề nghiệp tập trung đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị cho các ngành, nghề theo chuẩn có trọng tâm, trọng điểm, tương thích với trang thiết bị trong sản xuất để học sinh sinh viên rèn luyện kỹ năng, nâng cao kỹ năng nghề. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần nghiên cứu và chế tạo thiết bị tự làm bảo đảm tính khoa học, thực tiễn, hiệu quả phục vụ dạy và học. Thông qua việc thiết kế, chế tạo thiết bị tự làm mà năng lực chuyên môn và nghiên cứu khoa học của nhà giáo được nâng lên.
d. Về gắn kết cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp
Gắn kết cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp là giải pháp quan trọng trong việc đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động. Để thực hiện giải pháp này cần thực hiện những nội dung sau:
– Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp mời doanh nghiệp tham gia vào xây dựng chương trình đào tạo; doanh nghiệp đảm bảo cho người học được thực hành kỹ năng tại cơ sở sản xuất, dịch vụ; doanh nghiệp tham gia đánh giá kết quả học tập của người học.
– Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động thành lập doanh nghiệp, để tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phù hợp với các ngành (nghề) mà nhà trường đang đào tạo.
– Doanh nghiệp thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp (Trường trong doanh nghiệp), trung tâm đào tạo, bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, kỹ năng thực tiễn cho người lao động và hướng dẫn học sinh sinh viên của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thực tập kỹ năng.
– Doanh nghiệp đặt hàng cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo theo yêu cầu doanh nghiệp và đảm bảo việc làm của người học khi tốt nghiệp. Đồng thời tham gia bồi dưỡng chuyên môn, chuyển giao công nghệ cho người lao động của doanh nghiệp.
– Doanh nghiệp tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, các chuẩn có liên quan đến giáo dục nghề nghiệp.
– Thực hiện các mô hình đào tạo tiên tiến của các nước như mô hình đào tạo kép của Cộng hòa Liên bang Đức.
3.2. Về đẩy mạnh tự chủ, tăng cường giám sát, đánh giá chất lượng trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính theo lộ trình tùy thuộc vào năng lực quản lý. Quy định trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục nghề nghiệp trước cơ quan quản lý, xã hội và pháp luật.
Nhà nước cần thực hiện cơ chế đặt hàng đào tạo các ngành, nghề trọng điểm, các ngành, nghề khó tuyển sinh theo phương thức đấu thầu. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là công lập hay ngoài công lập căn cứ vào năng lực của mình để tham gia đặt hàng, đấu thầu
3.3. Nhóm giải pháp quản lý chất lượng giáo dục nghề nghiệp.
Thực hiện các quy định, đòi hỏi mới liên quan đến quản lý chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2025 và yêu cầu từ thực tiễn để thống nhất, đồng bộ hóa hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện luật, cần sớm ban hành, thay thế nghị định số 49/2018/NĐ-CP, nghị định 4/2023/NĐ-CP qui định về kiểm định chất lượng GDNN.
– Xây dựng và vận hành được hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Lập kế hoạch xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng; Xây dựng chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng và kế hoạch thực hiện mục tiêu chất lượng; Xây dựng được một số quy trình, công cụ bảo đảm chất lượng; Xây dựng tài liệu hướng dẫn (cẩm nang/sổ tay) về hệ thống bảo đảm chất lượng và cải tiến hệ thống bảo đảm chất lượng.
– Nắm được quy trình tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp, chương trinh đào tạo và quy trình đánh giá ngoài của tổ chức kiểm định; Thực hiện được công tác tự đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp và chương trình đào tạo, có kỹ năng quản lý minh chứng trong kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp.
– Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghể nghiệp, chất lượng chương trình đào tạo; Tham gia kiểm định chất lượng quốc tế.
– Bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế là một trong những nội dung chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài. Mục tiêu của bảo đảm chất lượng là bảo đảm người học có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp,năng lực tự chủ để khi tốt nghiệp sẵn sàng tham gia và đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước.
Tài liệu tham khảo
1. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/08/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;
2. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
3. Quốc hội (2025), Luật Giáo dục nghề nghiệp, các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan
4. Quyết định số 2239/QĐ- TTg ngày 30/12/2021 của Chính phủ phê duyệt Chiến lượng phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
5. Quyết định số 2222/QĐ- TTg ngày 30/12/2021 của Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
6. Tạp chí Tuyên giáo, Hướng dẫn chi tiết chuyên đề “Hội nhập quốc tế”, 14/10/2017.
7. Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (2017), Đề án Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2017 – 2020 và định hướng đến năm 2025.
8. PGS.TS. Cao Văn Sâm và BCN (2019), Nghiên cứu các mô hình giáo dục nghề nghiệp trong doanh nghiệp – Đề tài cấp Bộ, mã số CB2019 -05; PGS.TS. Cao Văn Sâm và BCN (2012), Giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu cạnh tranh của thị trường lao động trong bối cảnh hội nhập Đề tài cấp Bộ, mã số CT2011-01-03.
9. GS.TS. Lê Quân (2019), Kỳ vọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nước
ENSURE THE QUALITY
OF VOCATIONAL EDUCATION IN THE CONTEXT OF INTEGRATION
|
PGS.TS. Cao Van Sam Email: vansam2510@gmail.com ThS. Cao Viet Dung National Economics University |
Abstract:
Vocationai education plays an important role in training human resources directly for pro production and serving the cause of industrialization and modernization of the country in the new era. To create a strong change and ensure the quality of vocational education in the context of integration, it is necessary to synchronously implement edutions from innovating chool administration, developing training programs according to the competency approach, imporove the quality of teachers, strengthen faclites, innovate the organization of the training process in the direction of inking vocational aducation instilutions with businesses, and evaluate learning outcomes according of the competercy approach, strengthening international cooperation with training facilithes in the region and around the world.
Kaywords: Vocational education, integration, quality assurance, solutions to ensure the quality of vocational education
