Tin tức, Tin tức ITD

CẦN ĐỘT PHÁ VỀ THỂ CHẾ TRONG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

gen n Anh PGS.TS Cao Van Sam A Dai dien

         Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm tới giáo dục – đào tạo và khẳng định đây là quốc sách hàng đầu. Ngày 22/8/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị đã ký ban hành Nghị quyết 71-NQ/TW của Đảng về phát triển đột phá giáo dục và đào tạo . Trong đó đã nêu rõ 06 quan điểm, 03 nhóm mục tiêu và 08 nhóm nhiệm vụ giải pháp rất rõ ràng và bao quát. Nghị quyết đã bao trùm toàn diện và đặc biệt nổi bật về quan điểm “khẳng định giáo dục – đào tạo không chỉ là quốc sách hàng đầu mà còn là nhân tố quyết định vận mệnh của dân tộc “. Trong những điểm mới, đột phá ấn tượng nhất trong Nghị quyết là đột phá về tư duy, nhận thức, quyết tâm, quyết liệt thay đổi mạnh mẽ về thể chế trong giáo dục và đào tạo.Vì thế các dự án Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học, Luật giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) lần này cần thể chế hóa chủ trương, chính sách theo tinh thần các nghị quyết của Đảng về phát triển đột phá giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW), về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo (Nghị quyết 57-NQ/TW), về hội nhập quốc tế (Nghị quyết 59-NQ/TW), về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68-NQ/TW) và những vấn đề đặt ra với các dự thảo Luật nêu trên.

         Các dự án Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học, Luật giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) đang được triển khai khẩn trương, thận trọng, toàn diện…theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW “giáo dục đào tạo không chỉ là quốc sách quan trọng hàng đầu, mà còn là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc”. Chính sự nhận thức này là gốc rễ, nền tảng cho những thay đổi,  chỉ ra rất rõ để giáo dục và đào tạo có sự phát triển đột phá trong kỷ nguyên mới. Đổi mới thể chế với tư duy theo hướng thay vì quản lý, phải kiến tạo, với những cơ chế chính sách đặc thù, vượt trội để các nhà trường, các cơ sở giáo dục và đào tạo có thể thu hút được mọi nguồn lực, cả hữu hình và vô hình cho sự phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo và sự tăng trưởng của nhà trường, hội nhập với trình độ và chuẩn mực quốc tế cũng là góp phần thực hiện được mục tiêu đến năm 2030: mở rộng tiếp cận công bằng, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á; 100% cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia; 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển trong khu vực. Tầm nhìn đến năm 2045: Việt Nam có hệ thống giáo dục hiện đại, công bằng, chất lượng, thuộc nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới; phát triển ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học thuộc top 100 đại học hàng đầu toàn cầu ở một số lĩnh vực, theo bảng xếp hạng uy tín quốc tế.

         Theo tôi chắc lẽ lõi của sửa đổi các Luật trên cần qui định về chính sách đột phá nhằm thể chế hóa được những chủ trương của Đảng về giáo dục và đào tạo tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn, tạo sự thống nhất, đồng bộ giữa các Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học, Luật giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) và các luật khác có liên quan, đáp ứng yêu cầu mới trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi. Được biết dự án các Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học, Luật giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) được Cơ quan chủ trì soạn thảo đã rất trách nhiệm, nghiên cứu, xây dựng và đã nhiều lần lấy ý kiến các đối tượng, chuyên gia ở các cấp độ khác nhau. Sau khi nghiên cứu các dự thảo ngày 07/09/2025 do Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cung cấp tôi xin nêu một số suy nghĩ về vấn đề trên như sau:

         1. Các dự thảo dự án luật đã cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng đối với giáo dục và đào tạo; cơ bản đã khắc phục được những tồn tại hạn chế, các qui định chính sách của pháp luật và quá trình thực thi pháp luật hiện hành về giáo dục hiện nay và đáp ứng đối với những vấn đề mới đặt ra đối với các dự thảo luật nêu trên nhằm hướng tới kiến tạo thay cho quản lý thu hút được mọi nguồn lực cho sự phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo và tăng trưởng của nhà trường, hội nhập quốc tế theo hướng hiện đại, mở, linh hoạt, đáp ứng yêu cầu về nhân lực chất lượng cao trong Kỷ nguyên mới – Kỷ nguyên vươn mình của đất nước.

         2. Các dự thảo dự án luật đã thể hiện đầy đủ vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của cơ sở giáo dục trong đổi mới quản trị, nâng cao chất lượng; đã xử lý được mối quan hệ giữa thúc đẩy tự chủ của cơ sở giáo dục với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nhất là trong kiểm soát, bảo đảm chất lượng giáo dục; đã chú trọng đúng mức tới công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực quản trị; đã quy định hợp lý về cơ chế giám sát, đánh giá chất lượng, bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục…).

         3. Dự thảo dự án Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) đã mở rộng đối tượng tham gia giáo dục nghề nghiệp với những điều kiện do Chính phủ quy định. Đã quy định về công nhận, chuyển đổi kết quả học tập và năng lực nghề nghiệp đã tích lũy, tạo thuận lợi cho phân luồng, liên thông, đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời và hội nhập quốc tế.

Tôi cơ bản đồng ý với cách tiếp cận của cơ quan soạn thảo về các dự thảo 03 dự án luật nêu trên. Các dự án luật đã tuân thủ qui định của pháp luật theo hướng luật khung và đã bao quát được những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung. Đã cố gắng lồng ghép các quy định về chính sách, nội dung: đổi mới cơ cấu hệ thống giáo dục; đổi mới chương trình, tổ chức đào tạo và bảo đảm chất lượng; đổi mới thu hút hiệu quả doanh nghiệp và đầu tư nước ngoài; đổi mới cơ chế, chính sách tài chính và đầu tư dựa trên chất lượng, hiệu quả, công khai, minh bạch của cơ sở giáo dục; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục.

         Để tiếp tục hoàn thiện 03 dự án Luật, tôi xin có một số ý kiến đóng góp thêm sau đây:

         1. Tính đột phá để thực hiện cần theo hướng: hiện đại hóa, tự chủ toàn diện, chuẩn quốc tế… ở các khoản, điều còn mờ. Cần Đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội trong các dự thảo Luật cho phát triển giáo dục và đào tạo

         2. Để cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng vào trong các dự thảo dự án luật sâu sắc hơn nữa, theo tôi cần thể chế hóa, lồng ghép vào các quy định nhiều hơn, cụ thể hơn tại các khoản, điều, chương của các dự thảo dự án luật: các nội dung quy định về chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, hội nhập …

         3. Cần rà soát thêm văn phong, sử dụng từ ngữ nhất quán trong các dự thảo dự án luật tránh hiểu theo nhiều nghĩa (dạy nghề, đào tạo nghề; chương trình đào tạo, chương trình dạy nghề…).

         4. Một số điều, khoản cần quy định theo hướng thể chế hóa cụ thể hơn, chuẩn xác hơn, rõ nét hơn nhằm: đẩy mạnh phân cấp, phân quyền tối đa trong quản lý nhà nước về giáo dục; hướng về cơ sở, kiến tạo để cơ sở triển khai thực hiện; quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, từng cấp và thiết kế công cụ để tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực; tăng cường hợp tác công tư trong giáo dục đào tạo; tạo thuận lợi cho cơ sở tự chủ trong khuôn khổ pháp luật theo hướng Nhà nước đóng vai trò chủ đạo – doanh nghiệp, xã hội đóng vai trò quan trọng.

          5. Một số vấn đề cụ thể:

         5.1. Cần làm rõ, bổ sung thêm nội hàm cho khái niệm “hợp tác trong giáo dục nghề nghiệp” được quy định tại khoản 2, Điều 2 dự thảo Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) để bảm đảm bao hàm được các hoạt động hợp tác về: nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, đổi mới sáng tạo, đánh giá, phát triển chuyên môn, hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng hiện đại, toàn diện.

         5.2. Quy định về xã hội hóa trong giáo dục nghề nghiệp đã được quy định tại khoản 5, Điều 4 Dự thảo Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) đồng thời lồng ghép vào các quy định về tài chính, đầu tư, hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, để đảm bảo đầy đủ nội hàm của xã hội hóa trong giáo dục nghề nghiệp là huy động đầu tư, hợp tác trong giáo dục nghề nghiệp cần có điều khoản viện dẫn đến các quy định về xã hội hóa trong giáo dục tại Luật giáo dục hoặc quy định cụ thể, rõ ràng hơn để tạo khung pháp lý và động lực cho nhà trường, doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế có thể hợp tác thực chất, hiệu quả trong toàn bộ quá trình tổ chức đào tạo.

         5.3. Tại Điều 7, dự thảo Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) quy định về   Tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Cần bổ sung thêm quy định về tự chủ trong các hoạt động: hợp tác quốc tế, kết hợp giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.

         5.4.  Tại Điều 16, dự thảo Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) quy định về Chuẩn chương trình đào tạo

Cần bổ sung thêm một khoản quy định về vai trò, bản chất của chuẩn chương trình đào tạo.

        5.5. Tại Điều 41, dự thảo Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) quy định về Hợp tác và liên kết đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp

         Cùng với nội dung đã nêu tại mục 5.1. Cần có điều, khoản viện dẫn đến các điều, khoản quy định về hợp tác quốc tế trong giáo dục tại Luật giáo dục hoặc quy định cụ thể, rõ ràng hơn tránh quy định chung chung để hợp tác quốc tế trong giáo dục nghề nghiệp được hiệu quả nhưng đảm bảo có chọn lọc, đảm bảo lợi ích quốc gia, an ninh – tư tưởng, chất lượng đào tạo và phát triển bền vững.

         Đột phá mạnh mẽ về thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội trong các dự án Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học, Luật giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) nhằm thực hiện có hiệu quả nghị quyết 71-NQ/TW, Nghị quyết 57-NQ/TW và các nghị quyết 59-NQ/TW, nghị quyết 68-NQ/TW để  giáo dục – đào tạo không chỉ là quốc sách hàng đầu mà còn là nhân tố quyết định vận mệnh của dân tộc./.

PGS.TS Cao Văn Sâm (Email:vansam2510@gmail.com)

Bài viết liên quan