Tin tức, Tin tức ITD, Văn bản QPPL - Văn bản hướng dẫn

CHÍNH PHỦ VỪA BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ TỰ CHỦ CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC, CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

ITD Anh dai dien

Ngày 20 tháng 8 năm 2026, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 334/2026/NĐ-CP quy định về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian.

thuc hanh o to

Ảnh minh họa (Nguồn ĐH SPKT Nam Định)

Nghị định số 334/2026/NĐ-CP quy định về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp (cơ sở giáo dục); cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian. Cụ thể:

Tự chủ về hoạt động giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp

Theo quy định tại Điều 4, Nghị định số 334/2026/NĐ-CP cơ sở giáo dục thực hiện quyền tự chủ trong hoạt động giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; gắn với trách nhiệm giải trình, bảo đảm chất lượng, công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục và chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền.

Nghị định số 334/2026/NĐ-CP cũng quy định chi tiết, cụ thể một số nội dung cơ sở giáo dục được tự chủ trong: xây dựng, phát triển chương trình đào tạo; tuyển sinh, đào tạo và cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định của pháp luật; thực hiện hoạt động bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục theo quy định của pháp luật; hoạt động hợp tác, liên kết trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật…

Tự chủ về hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Theo quy định tại Điều 5, Nghị định số 334/2026/NĐ-CP cơ sở giáo dục được tự chủ xây dựng, tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; quản lý, khai thác và phát triển các nguồn lực, dữ liệu phục vụ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo quy định của pháp luật; việc áp dụng cơ chế chấp nhận rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đáng chú ý, cũng theo quy định tại Điều 5, Nghị định số 334/2026/NĐ-CP cơ sở giáo dục được tự chủ tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp hội nghị, hội thảo quốc tế có nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, quyền con người, bí mật nhà nước, hợp tác quốc tế về pháp luật và cải cách tư pháp hoặc có thành phần tham dự thuộc diện theo quy định của pháp luật phải báo cáo, xin phép cơ quan có thẩm quyền thì thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.

Cơ sở giáo dục được quyết định triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình giáo dục số, công nghệ giáo dục, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo theo đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; được áp dụng quy định về miễn trừ trách nhiệm pháp lý và thực hiện theo quy định tại Điều 22 Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 và Nghị định số 353/2025/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số.

Tự chủ về cơ cấu tổ chức, nhân sự

Theo quy định tại Điều 6, Nghị định số 334/2026/NĐ-CP cơ sở giáo dục công lập thực hiện quyền tự chủ về cơ cấu tổ chức và nhân sự theo quy định của pháp luật có liên quan, bao gồm:

– Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục; quyết định cơ cấu tổ chức, thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị thuộc, trực thuộc; quyết định vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong phạm vi đề án tự chủ, chiến lược phát triển đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và phù hợp với quy chế tổ chức và hoạt động đã ban hành; đồng thời thực hiện công khai, báo cáo và chịu trách nhiệm về quyết định của cơ sở giáo dục công lập.

– Quyết định phê duyệt vị trí việc làm, số lượng người làm việc và quản lý viên chức của cơ sở giáo dục theo quy định; bố trí số lượng cấp phó theo đề án tự chủ của cơ sở giáo dục được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; quyết định bổ nhiệm kế toán trưởng hoặc bố trí người làm phụ trách kế toán.

– Đối với các vị trí viên chức thuộc thẩm quyền quản lý, cơ sở giáo dục quyết định việc tuyển dụng, đánh giá, xếp loại viên chức, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giao quyền, giao phụ trách, kéo dài thời gian giữ chức vụ, cho thôi giữ chức vụ, tạm đình chỉ, đình chỉ chức vụ, cho từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển; phê duyệt quy hoạch; cử viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng; cho thôi việc, chuyển công tác; xử lý kỷ luật; bố trí, phân công công tác, thay đổi vị trí việc làm; thực hiện chế độ tiền lương; chế độ nghỉ phép hằng năm, nghỉ công tác không hưởng lương, nghỉ hưu và chế độ bảo hiểm xã hội; quản lý hồ sơ viên chức theo quy định.

Cơ sở giáo dục ban hành và tổ chức thực hiện quy định nội bộ về cơ cấu tổ chức và nhân sự; thực hiện các quyền tự chủ khác về cơ cấu tổ chức và nhân sự theo quy định của pháp luật.

Cơ sở giáo dục có trách nhiệm cập nhật, quản lý và đồng bộ dữ liệu về viên chức, người lao động với cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định.

Tự chủ về tài chính, tài sản và đầu tư của cơ sở giáo dục

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 7, Nghị định số 334/2026/NĐ-CP cơ sở giáo dục tư thục tự chủ về nguồn thu, nội dung chi, phân phối kết quả tài chính, sử dụng lợi nhuận sau thuế, quản lý tài sản, huy động vốn, đầu tư theo quy định pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, thuế và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 7, Nghị định số 334/2026/NĐ-CP, cơ chế tự chủ trong quản lý và sử dụng nguồn tài chính của cơ sở giáo dục công lập được quy định như sau:

– Cơ sở giáo dục quyết định việc sử dụng các nguồn tài chính theo quy định để phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển cơ sở vật chất theo các quy chế nội bộ về đầu tư, tài chính, tài sản trên cơ sở bảo đảm quy định của pháp luật có liên quan.

– Các nội dung chi bao gồm chi trả tiền lương, tiền công, thu nhập tăng thêm, tiền thưởng và các khoản khuyến khích khác trên cơ sở vị trí việc làm và hiệu quả công việc; cơ chế đãi ngộ vượt trội để thuê chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; chi hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ; chi dịch vụ, quản lý vận hành; chi đầu tư, cải tạo, nâng cấp, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở vật chất, mua sắm tài sản, trang thiết bị; chi trả lãi vay đối với phần chi từ vốn vay hợp pháp và các khoản chi hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

– Các nội dung chi nêu tại điểm b khoản này phải được cụ thể hóa về đối tượng, tiêu chuẩn, định mức chi áp dụng thống nhất trong quy chế chi tiêu nội bộ của cơ sở giáo dục.

– Toàn bộ quy trình sử dụng ngân sách phải tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch, gắn với hiệu quả hoạt động, bảo đảm chất lượng đầu ra và tiến độ thực hiện nhiệm vụ được giao.

Phân loại mức độ tự chủ tài chính đối với cơ sở giáo dục công lập và cơ chế hỗ trợ của Nhà nước

Theo quy định tại Khoản 4, Điều 7, Nghị định số 334/2026/NĐ-CP, cơ sở giáo dục được phân loại tự chủ tài chính theo các mức bảo đảm chi thường xuyên, bảo đảm một phần chi thường xuyên hoặc do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.

Cơ sở giáo dục công lập tự bảo đảm chi thường xuyên được thực hiện cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư theo các quy định của pháp luật. Chính sách học phí, giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo tiếp tục thực hiện theo quy định của Chính phủ về học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.

Việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực đào tạo, khả năng xã hội hóa, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực quốc gia và chiến lược phát triển kinh tế xã hội.

Nhà nước thực hiện cơ chế hỗ trợ, đầu tư, đặt hàng và giao nhiệm vụ đối với các ngành, nghề trọng điểm, mũi nhọn, khoa học cơ bản, công nghệ cao, ngành xã hội có nhu cầu khó tuyển sinh, đặt hàng đào tạo cho các đối tượng chính sách và cho các nhiệm vụ phát triển quốc gia quy định tại Nghị định này, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục.

Cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo theo kết quả đầu ra

Theo quy định tại Điều 11, Nghị định số 334/2026/NĐ-CP cơ quan nhà nước có thẩm quyền, doanh nghiệp, tổ chức đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo cho cơ sở giáo dục theo kết quả đầu ra. Căn cứ và nguyên tắc thực hiện như sau:

– Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện giao nhiệm vụ đào tạo đối với các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc; cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các doanh nghiệp và tổ chức thực hiện đặt hàng đào tạo đối với các cơ sở giáo dục có năng lực phù hợp.

– Việc lựa chọn đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo phải theo các nguyên tắc quy định tại Điều này; việc giao kết và thực hiện hợp đồng đào tạo phải căn cứ vào yêu cầu và kết quả cung ứng nhân lực, không dựa vào số lượng tuyển sinh đầu vào.

– Cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ theo kết quả đầu ra được phép thực hiện kết hợp với cơ chế hỗ trợ người học đối với các chương trình đào tạo theo quy định tại Điều này, nhằm hỗ trợ cơ sở giáo dục tăng cường các điều kiện bảo đảm chất lượng và nâng cao chất lượng đào tạo.

– Cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ theo kết quả đầu ra không được thực hiện đồng thời với cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ khác theo quy định của Chính phủ đối với cùng một chương trình đào tạo.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng nền tảng số để hỗ trợ thực hiện đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo.

Nghị định số 334/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 05/10/2026.

Chi tiết Nghị định số 334/2026/NĐ-CP tại đây:334_2026_ND-CP_20082026-signed

Văn phòng ITD

Bài viết liên quan